Tình hình kinh tế - xã hội năm 2020
  

                            (Theo báo cáo số 438/BC-UBND ngày 04/12/2020 của UBND tỉnh)

Với quyết tâm hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ nêu tại Nghị quyết 22/2019/NQ-HĐND ngày 10/12/2019 của HĐND tỉnh; sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, ước thực hiện năm 2020 có 10/14 chỉ tiêu chủ yếu đạt kế hoạch đề ra, có 04 chỉ tiêu không đạt, gồm: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP), giá trị xuất khẩu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tạo việc làm mới.

Stt

Chỉ tiêu chủ yếu

TH năm 2019

KH 2020

Ước TH 2020

 

Ghi chú

I

Kinh tế

 

 

 

 

1

Tốc độ tăng GRDP (%), trong đó:

7,27

7,5-8,0

2,06

Không đạt

 

- Nông Lâm Ngư nghiệp (%)

-4,15

2,28

1,34

 

 

- Công nghiệp -Xây dựng (%)

11,20

10,56

6,21

 

 

- Dịch vụ (%)

7,63

6,9

-0,79

 

 

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP (%)

8,50

5,58

3,69

2

GRDP bình quân đầu người (USD)

2.020

2.150

2.120

Xấp xỉ đạt

3

Giá trị xuất khẩu (triệu USD)

950

1.050

800

Không đạt

4

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Tỷ đồng)

22.700

27.000

24.500

Không đạt

5

Thu ngân sách Nhà nước (Tỷ đồng)

8.396

7.607

8.455

Đạt

II

Xã hội

 

 

 

 

6

Mức giảm tỷ suất sinh (‰)

0,2

0,2

0,2

Đạt

 

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (‰)

10,8

<10,8

10,8

Đạt

7

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng:

-Theo cân nặng (%)

-Theo chiều cao (%)

 

7,6

10,4

 

< 7,6

<10,4

 

7,6

10,4

 

Đạt

8

Tỷ lệ hộ nghèo (%)

4,17

3,67

3,67

Đạt

9

Tỷ lệ người dân tham gia BHYT (%)

98,5

>98

99,05

Đạt

10

Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề (%)

64

66

65,45

Xấp xỉ đạt

11

Tạo việc làm mới (nghìn người)

16

16

12,5

Không đạt

III

Môi trường

 

 

 

 

12

Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch (%)

85

87

87

Đạt

13

Độ che phủ rừng (%)

57,3

57,3

57,3

Đạt

14

Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom (%)

96

97

97

Đạt

1. Tăng trưởng kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 tiếp tục tăng nhưng giá trị gia tăng thấp, ước đạt 2,06%, không đạt kế hoạch đề ra do ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch Covid-19 và thiên tai trong năm gây ra. Trong đó:

+ Khu vực dịch vụ tăng trưởng âm 0,79%, đặc biệt doanh thu du lịch giảm sâu, giảm 64% so với cùng kỳ.

+ Khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 6,21%[1]. Mặc dù bị ảnh hưởng đại dịch Covid-19, một số sản phẩm chủ lực như sợi, may mặc giảm, không đạt kế hoạch, nhưng một số sản phẩm duy trì mức sản xuất khá, vượt kế hoạch (Bia); sản phẩm mới - khẩu trang y tế chủ yếu xuất khẩu thế giới.

+ Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 1,34% do ảnh hưởng của các trận mưa lớn, bão, lụt liên tiếp vào cuối năm, đặc biệt thiệt hại về thuỷ sản, chăn nuôi, hoa màu, ...

+ Khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 3,69%. Nhờ chuyển nguồn thu từ năm 2019 chuyển sang; đồng thời, thuế xuất nhập khẩu tăng 1 số mặt hàng xuất nhập khẩu có tỷ suất thuế tăng so với cùng kỳ.

- Cơ cấu các khu vực kinh tế: Dịch vụ - Công nghiệp và xây dựng - Nông nghiệp - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tương ứng 47,36% - 32,25% - 11,86% - 8,53%.Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người đến năm 2020 ước đạt 49 triệu đồng, tương đương 2.120 USD, tăng 5% (xấp xỉ đạt KH là 2.150 USD).

- Thu ngân sách nhà nước năm 2020 ước đạt 8.455 tỷ đồng, vượt 11,2% so với dự toán, tăng 0,7% so với cùng kỳ; trong đó, thu nội địa 7.992 tỷ đồng (chiếm 94,5% tổng thu NS), tăng 12,8% so với dự toán, tăng 1,3% so cùng kỳ (Nguồn chủ yếu từ nguồn thu tiền sử dụng đất tăng 34%); thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 415 tỷ đồng, bằng 84,3% dự toán, giảm 13,6%. Chi ngân sách năm 2020 ước đạt 11.428 tỷ đồng, bằng 95,5% dự toán.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 24.450 tỷ đồng, tăng 7,9%, đạt 90,6% KH. Đã tập trung triển khai Dự án giải phóng mặt bằng Khu vực 1 Kinh thành Huế, hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, hạ tầng phát triển công nghiệp.

2. Tình hình phát triển các ngành, lĩnh vực

2.1.  Phát triển du lịch, dịch vụ

- Hoạt động du lịch

Hoạt động du lịch bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Tỉnh đã nỗ lực trong việc kiểm soát dịch bệnh, triển khai các giải pháp kích cầu du lịch[2], tuy nhiên do dịch bệnh đã bùng phát trở lại, có chiều hướng phức tạp, khó lường nên đã hủy và hoãn nhiều sự kiện du lịch[3] gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch. Lượng khách du lịch đến Huế giảm sâu, ước cả năm 2020 chỉ đạt 1,8 - 2 triệu lượt, chiếm 39,2% KH, giảm 60%, trong đó khách quốc tế giảm mạnh, chỉ đạt 25% KH, giảm 70%, Khách lưu trú ước đạt 1 - 1,2 triệu lượt khách; bằng 50% KH và giảm 45%. Doanh thu du lịch ước khoảng 3.800 – 4.000 tỷ đồng, bằng 32% KH và giảm 64%; trong đó doanh thu các cơ sở lưu trú khoảng 800 tỷ đồng, chiếm 20% doanh thu. Thiệt hại về doanh thu du lịch ước khoảng 8.000 tỷ đồng.

Thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 08/5/2020 về triển khai các giải pháp kích cầu du lịch ban hành; Quyết định số 52/2019/QĐ-UBND ngày 13/9/2019 về chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, đến nay bước đầu hoàn thiện và hình thành các điểm du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái tại các địa phương có tiềm năng phát triển du lịch[4].

Hạ tầng giao thông du lịch đang triển khai với nhiều dự án trọng điểm như đoạn Phú Mỹ - Thuận An (đường Tự Đức – Thuận An); dự án nâng cấp Cảng hàng không Quốc tế Phú Bài; dự án đường cao tốc Túy Loan – La Sơn, Cam Lộ - La Sơn; dự án hầm đường bộ Hải Vân 2; Dự án hạ tầng du lịch sông Mê Công mở rộng giai đoạn II.

Đôn đốc triển khai các dự án đầu tư cơ sở vật chất đưa vào khai thác sau dịch Covid-19, cụ thể: khách sạn Sena Huế (KS Thuận Hóa cũ), Grand Silk Path Huế, khách sạn Đông Dương, Onsen Karawa Mỹ An, khu nghỉ dưỡng Movenpick Địa Trung Hải, Minh Viễn Lăng Cô; một số dự án chuẩn bị khởi công như Quần thể sân Golf Thiên An, chợ du lịch,... Đang hoàn thiện thủ tục triển khai 1 số dự án như dự án khu du lịch nghỉ dưỡng và sân golf  của Tập đoàn BRG, Văn Phú, Đăng Kim Long, Ecopark,…

Tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch, đăng tải trên cổng thông tin điện tử du lịch tỉnh (visithue.vn), ứng dụng trên di động Hue-S; Tiktok, Instagram, Youtube.... Đẩy mạnh phát triển du lịch tại chỗ như du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với suối thác, biển và đầm phá, trải nghiệm không gian văn hóa nghệ thuật truyền thống và đương đại; mô hình du lịch homestay tiếp tục được mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ.

- Hoạt động thương mại

Hạ tầng thương mại với hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi ngày càng được đầu tư, mở rộng đã đáp ứng ngày càng cao nhu cầu mua sắm, tiêu dùng đa dạng của người dân[5]. Mạng lưới chợ được đầu tư, nâng cấp với tổng mức đầu tư các dự án lên tới 300 tỷ đồng[6]. Đến nay, có 07/42 chợ hoàn thành công tác chuyển đổi mô hình quản lý chợ, đạt tỷ lệ 16,6% kế hoạch. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2020 ước đạt 45.000 tỷ đồng, đạt 94% KH, tăng 4,9% so với cùng kỳ.

- Hoạt động xuất nhập khẩu
Kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đạt 766 triệu USD; ước cả năm đạt 800 triệu USD, giảm 16% so với cùng kỳ, bằng 73% KH. Kim ngạch nhập khẩu 11 tháng đạt 474 triệu USD, cả năm ước đạt 500 triệu USD, giảm 4,8%, bằng 62,5% KH. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nguồn nguyên phụ liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc và các hợp đồng xuất đi bị tạm ngưng hoặc giảm đáng kể.
- Hoạt động tín dụng

Do tác động đại dịch Covid-19, mức huy động vốn và tín dụng năm 2020 chỉ đạt mức tăng trưởng thấp, ước thực hiện tổng nguồn vốn huy động đạt 52.700 tỷ đồng, tăng 9,1% so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng đạt 54.600 tỷ đồng, tăng 8,1%. Nợ xấu ở mức 1.080 tỷ đồng, chiếm 1,98% so với tổng dư nợ.

- Hoạt động vận tải do địa phương quản lý

Năm 2020, vận tải hành khách ước đạt 17.332,1 nghìn lượt khách, giảm 30,4%; vận tải hàng hóa ước đạt 14.621,2 nghìn tấn, tăng 8%; doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 3.058 tỷ đồng, giảm 2,1% so cùng kỳ.

- Hoạt động lĩnh vực thông tin truyền thông

Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn có internet băng rộng, 90% dân cư được phủ sóng mạng thông tin di động 4G; số thuê bao điện thoại đạt 84 máy/100 dân, số thuê bao internet đạt 51 thuê bao/100 dân; hiện đang tiến hành triển khai phủ sóng mạng 5G trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh có khoảng 170 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin[7] với tổng số lao động khoảng 1.700 người.

Tổng doanh thu lĩnh vực thông tin và truyền thông năm 2020 ước đạt 2.595 tỷ đồng, tăng 2,7%; trong đó, doanh thu viễn thông đạt 1.220 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 43%, giảm 9,2%; lĩnh vực công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng 42,3%, đạt giá trị 1.100 tỷ đồng, tăng 22%; lĩnh vực bưu chính chiếm tỷ trọng 8,8%, đạt giá trị 230 tỷ đồng, giảm 9%; lĩnh vực khác 152 tỷ đồng, tăng 3%.

2.2. Về công nghiệp - xây dựng

- Về công nghiệp

Năm 2020, giá trị sản xuất ước đạt khoảng 36.600 tỷ đồng (theo giá so sánh), đạt 98,9% KH, tăng 6,4%. Chỉ số IIP tăng 5% nhờ đóng góp tăng trưởng của một số năng lực sản xuất mới, cụ thể NM Sợi 2 (CTPT Vinatex Phú Hưng); NM SX mũ thể thao và túi du lịch; NM dệt sunjin AT&C Vina; Thủy điện sông Bồ; Frit Hương Giang (lò thứ 2), Viên nén năng lượng tái tạo Thiên Phú; NM chế xuất Billion Max Việt Nam;…và tăng năng lực tại chỗ của một số doanh nghiệp. Một số sản phẩm tăng so với năm 2019 cụ thể: Khẩu trang y tế 546 triệu cái (sản phẩm mới); Bia 256 triệu lít, vượt 2,4% KH, tăng 3,2%; Men frit 244 nghìn tấn, tăng 1,1%; Thủy hải sản xuất khẩu 6.170 tấn, tăng 6%; Tôm đông lạnh 6.170 tấn, tăng 6%; Lon nhôm 14,9  nghìn tấn, tăng 9,4%; Điện sản xuất 1.320 triệu kwh, tăng 8,2%; Điện thương phẩm 1.860 triệu kwh, tăng 0,8%; Quặng inmenit và tinh quặng inmenit 18.400 tấn, tăng 63,8%;…

Một số sản phẩm giảm: Sợi các loại 89,2 nghìn tấn, giảm 1%; Quần áo lót 322 triệu cái, giảm 9,6% ; Áo quần may sẵn 57 triệu sản phẩm, giảm 12,3%; Dăm gỗ 620 nghìn tấn; giảm  3,4%, Ô tô 120 xe, giảm 23,6%; Xi măng 2.150 nghìn tấn, giảm 5,4%. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng đại dịch Covid-19 một số doanh nghiệp may mặc đã kịp thời chuyển sang sản xuất khẩu trang vải, khẩu trang khuẩn phục vụ nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu để duy trì hoạt động sản xuất và giải quyết việc làm cho lao động[8];

- Về xây dựng

Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2020 (theo giá so sánh) ước đạt 8.700 - 9.000 tỷ đồng, tăng 7,5-9%. Đã hình thành các dự án khu đô thị và nhà ở cao cấp[9] thuộc khu đô thị mới An Vân Dương, với diện tích 1.700 ha. Đến nay, Khu đô thị mới An Vân Dương đã thu hút 48 dự án đầu tư, với tổng vốn đăng ký hơn 13.000 tỷ đồng, diện tích 300 ha (chiếm 17% ). Trong đó, có 10 dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án phát triển đô thị với diện tích đất quy hoạch 230,1 ha, dự kiến xây dựng 7.146 căn; 04 dự án nhà ở xã hội với diện tích đất quy hoạch trên 4,1ha, 1.840 căn hộ giai đoạn 2021 - 2023.

Thực hiện Chính sách hỗ trợ về nhà ở của Chính phủ: Chính sách hỗ trợ người có công đã hoàn thành 4.839/5.264 hộ, giải ngân 117,5 tỷ đồng, đạt 92%. Chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung đã hoàn thành 2.280/3.906 hộ, đạt tỷ lệ 58%, giải ngân 28,078 tỷ đồng, đạt 88%. Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 đã hoàn thành 671/1.491 hộ, đạt tỷ lệ 45%, đã giải ngân 16,775 tỷ đồng, đạt 45%.

2.3. Tình hình hoạt động trong các khu công nghiệp, khu kinh tế

Tính đến 31/10/2020, tại địa bàn khu kinh tế và các khu công nghiệp, đã cấp mới 06 dự án đầu tư[10] và điều chỉnh vốn với tổng vốn đăng ký 5.175 tỷ đồng, đạt 86% KH[11]. Ngoài ra, hiện đang có một số nhà đầu tư đang nghiên cứu đầu tư vào Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, dự kiến đến cuối năm 2020, sẽ cấp thêm khoảng 05 - 07 dự án với vốn đăng ký dự kiến 6.000 tỷ đồng[12]. Vốn đầu tư thực hiện năm 2020 ước đạt 1.724 tỷ đồng, đạt 28,7% KH.

Lũy kế đến nay, có 147 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 103.827 tỷ đồng[13]. Trong đó, 93 dự án đang hoạt động (chiếm tỷ lệ 63,3%), 32 dự án đang triển khai thực hiện (chiếm tỷ lệ 21,8%), 22 dự án còn lại thuộc diện chậm tiến độ, ngừng triển khai thực hiện (chiếm tỷ lệ khoảng 15%). Lũy kế vốn đầu tư thực hiện đến nay ước đạt khoảng 30.491 tỷ đồng (đạt 29,4% tổng vốn đăng ký).

Tỷ lệ lấp đầy Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đạt 32% (KH 35%); KCN Phú Bài 1 và 2 tỷ lệ lấp đầy 97,2%; giai đoạn 4 (đợt 1) đang lập hồ sơ khảo sát hiện trạng, quy hoạch chi tiết 1/500;  KCN Phong Điền 18,4% (KH là 25%)[14]; KCN La Sơn 26,7% (KH là 38%); KCN Phú Đa 22% (KH là 25%); KCN Tứ Hạ: 2,8% (KH là 5%); KCN Quảng Vinh hiện chưa có nhà đầu tư hạ tầng và chưa có dự án đầu tư.

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật KKT, KCN chưa đồng bộ, thiếu hệ thống xử lý nước thải các KCN (trừ KCN Phú Bài và Khu kinh tế[15]) đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thu hút các nhà đầu tư thứ cấp. Hiện nay, một số khu công nghiệp đang tiến hành các thủ tục để đầu tư hệ thống xử lý nước thải[16].

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, đã tạm hoãn tổ chức Hội nghị xúc tiến, thu hút đầu tư vào Khu kinh tế, khu công nghiệp tỉnh; nhiều dự án đầu tư bị giãn hoặc chậm tiến độ so với kế hoạch. Hoạt động sản xuất kinh doanh một số doanh nghiệp giảm, doanh thu ước đạt khoảng 21.000 tỷ đồng, giảm 25%. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt khoảng 550 triệu USD, chiếm 68% so với toàn tỉnh. Thu ngân sách ước đạt: 2.500 tỷ đồng, giảm 12% so với cùng kỳ. Có 32.500 lao động đang làm việc, trong đó có 103 lao động nước ngoài.

2.4. Về nông, lâm, ngư nghiệp

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu "khó khăn kép" bởi thiên tai và dịch bệnh, ước thực hiện năm 2020 đạt 7.000 tỷ đồng, tăng 0,45%, không đạt KH (KH 7.400-7.500 tỷ đồng).

- Trồng trọt

Tiếp tục triển khai thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tăng dần diện tích lúa chất lượng cao, thực hiện liên doanh liên kết trong sản xuất nông nghiệp. Đã hình thành vùng sản xuất lúa hàng hóa theo mô hình cánh đồng lớn. Sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, VietGap, hướng hữu cơ[17]. Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực năm 2020 ước đạt 56.146 ha trong đó, lúa ước đạt 54.131 ha, năng suất 58,9 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với năm 2019, sản lượng 321,2 nghìn tấn, giảm 1,7%; Ngô: ước đạt 1.424 ha, giảm 10,6%; năng suất 39,7 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha; sản lượng 5,66 nghìn tấn, giảm 11%; cây lương thực có hạt ước đạt 327 nghìn tấn. Sản lượng thu hoạch một số loại cây công nghiệp chủ yếu: Cao su: 6,7 nghìn tấn, tăng 0,7%; Lạc: 7,1 nghìn tấn, tăng 28%.

- Chăn nuôi

Toàn tỉnh hiện có 1.400 trang trại chăn nuôi, trong đó có 78 trang trại đạt tiêu chí[18].Công tác tái đàn được thúc đẩy sau khi khống chế được dịch tả lợn Châu Phi. Dự kiến cả năm, đàn lợn 140.000 con, tăng 58% so với đầu năm; đàn bò 29.700 con, giảm 1,1%; đàn trâu 16.300 con, giảm 1,6%; đàn dê 9.420 con; tổng đàn gia cầm đạt 3,8 triệu con, tăng 2,6%. Tổng sản lượng thịt hơi gia súc, gia cầm ước đạt 38.700 tấn, tăng 10%[19]. Tổ chức triển khai dự án “Tổ hợp chăn nuôi an toàn sinh học 4F” (Farm-Food-Feed-Fertilizer)[20] của Tập đoàn Quế Lâm.

- Lâm nghiệp

Diện tích trồng rừng mới ước đạt 6.500 ha tăng 4,8%. Trồng rừng gỗ lớn được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững 9.926 ha (trong đó FSC: 9.074 ha, tăng 1.296 ha; VFCS/PEFC: 852 ha). Sản lượng khai thác đạt 620 ngàn m3, tăng 1,78%. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì đạt 57,35%.

Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường. Tính đến 31/9/2020, đã phát hiện và xử lý 119 vụ phá rừng với diện tích 21 ha, xử phạt hành chính 22 vụ, phạt tiền 159 triệu đồng, chuyển xử lý hình sự 7 vụ.  

- Thủy sản

Triển khai hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tàu cá, tổ chức tuần tra ngăn chặn các hành vi vi phạm trong khai thác thủy sản[21]; triển khai các giải pháp chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU). Tổng số tàu cá toàn tỉnh là 569 chiếc[22]. Tính đến 31/9/2020, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 6.100 ha, tăng 1,6%. Do ảnh hưởng của thiên tai bão, lụt xảy ra liên tục vào cuối năm nên sản lượng thủy sản nuôi trồng và đánh bắt chỉ đạt 55,4 nghìn tấn, giảm 4,19%; trong đó sản lượng khai thác ước đạt 39,2 nghìn tấn, giảm 4,73%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 16,2 nghìn tấn, giảm 2,85%.

- Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)

Đến nay, đã xác định 34 sản phẩm để hỗ trợ nâng cấp, tiêu chuẩn hóa, trong đó: ngành thực phẩm 23 sản phẩm; ngành thảo dược 03 sản phẩm; ngành đồ uống 05 sản phẩm; ngành vải, may mặc 01 sản phẩm; ngành thủ công mỹ nghệ và trang trí 02 sản phẩm. Kết quả đến nay, đã cấp Giấy chứng nhận cho 06 sản phẩm: 03 sản phẩm đạt hạng 4 sao và 03 sản phẩm đạt hạng 3 sao[23]; 03 dự án mô hình điểm của Trung ương (tiềm năng đạt 5 sao).

- Chương trình nông thôn mới

Tính đến 31/9/2020, có 60/97 xã đạt chuẩn nông thôn mới (trong đó, 56 xã đã được công nhận và 04 xã đang hoàn chỉnh hồ sơ). Dự ước đến cuối năm 2020 có thêm 2 xã đạt chuẩn, nâng tổng số xã đạt chuẩn lên 62 xã, đạt 64%. Đến nay, thị xã Hương Thủy đã đạt chuẩn nông thôn mới và Quảng Điền đang hoàn chỉnh hồ sơ trình các cơ quan Trung ương thẩm định đạt chuẩn huyện nông thôn mới.

3. Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp
- Về thu hút đầu tư
Tính đến 31/10/2020, tỉnh đã thu hút 25 dự án đầu tư mới và 8 dự án điều chỉnh vốn với tổng số vốn đăng ký và tăng thêm 10.830 tỷ đồng, vượt kế hoạch[24]; trong đó có 05 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 18,4 triệu USD chiếm 5,5%. Lũy kế đến nay, trên địa bàn có 577 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 177.000 tỷ đồng, trong đó 468 dự án trong nước với số vốn 92.000 tỷ đồng chiếm 52%.
Vốn đầu tư thực hiện ước đạt 7.000 tỷ đồng, đạt 70% kế hoạch; vốn thực hiện lũy kế đến nay đạt hơn 52.400 tỷ đồng, bằng 29,6% tổng vốn đầu tư đăng ký (trong đó địa bàn KKT, KCN ước đạt 34.000 tỷ đồng).

Đã xây dựng thông tin 200 dự án kêu gọi đầu tư, trong đó, có 16 dự án được công bố thông tin chi tiết sẵn sàng kêu gọi đầu tư.

Công tác rà soát, giám sát tiến độ các dự án ngoài ngân sách 79 dự án theo Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 của HĐND. Đến nay, đã thu hồi được 29 dự án[25]; tiếp tục rà soát thu hồi 8 dự án; cần giám sát đặc biệt 21 dự án và đôn đốc tiến độ thực hiện 21 dự án. Ngoài ra, UBND tỉnh bổ sung thêm 72 dự án đưa vào nội dung giám sát đầu tư[26].

- Về phát triển doanh nghiệp

Tính đến 27/11/2020, có 640 doanh nghiệp và 279 đơn vị trực thuộc thành lập mới và điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký hơn 10.300 tỷ đồng[27]; có 234 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 6,8%; song có tới 418 doanh nghiệp tạm ngừng, tăng 30% và 98 doanh nghiệp giải thể, giảm 50%[28]. Lũy kế doanh nghiệp đang hoạt động ước đạt 6.345 doanh nghiệp.

Triển khai đồng bộ Quy trình phối hợp giữa các thủ tục: đăng ký kinh doanh - đăng ký tài khoản ngân hàng - đăng ký khắc con dấu, đã rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp từ 10 ngày xuống còn 03 ngày; thực hiện quy chế liên thông giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh và các đơn vị cung cấp dịch vụ trong việc hỗ trợ chữ ký số, hóa đơn điện tử, kê khai thuế và kế toán.

- Phát triển kinh tế tập thể

Tính đến 30/10/2020, đã thành lập mới 11 Hợp tác xã (HTX), ước đến cuối năm 2020 thành lập mới thêm 02 HTX, nâng tổng số HTX đang hoạt động lên 302 HTX, tăng 13 HTX so với năm 2019, vượt 1% (3 HTX) so với kế hoạch[29]. Tổng số thành viên HTX đạt 172.141 thành viên, tăng 0,68%; tổng số lao động trong HTX đạt 38.500 người, tăng 0,7%. Doanh thu bình quân của HTX năm 2020 ước đạt 3,2 tỷ đồng, tăng 200 triệu đồng/HTX so với năm 2019[30].

Tình hình phát triển kinh tế tập thể đã có những chuyển biến khá rõ, ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống người dân vùng nông thôn. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều HTX còn ở quy mô nhỏ, vừa làm vừa tìm kiếm thị trường, thiếu định hướng hoạt động mở rộng sản xuất, năng lực cạnh tranh còn yếu. Hoạt động liên doanh, liên kết trong nội bộ HTX, giữa các HTX với nhau và các doanh nghiệp chưa thực sự tích cực và mang lại hiệu quả.

4. Quản lý quy hoạch, đô thị, quản lý đầu tư xây dựng

4.1. Về quy hoạch, đô thị

Đang triển khai lập Quy hoạch tỉnh, giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chương trình phát triển đô thị tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030; Quy hoạch xây dựng vùng huyện Quảng Điền, Nam Đông đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Phong Điền; thực hiện Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Huế[31]; quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết các dự án phát triển hạ tầng sản xuất, khu du lịch,…để đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi đầu tư[32]. Phấn đấu hoàn thành công tác rà soát lại các quy hoạch phân khu thuộc Quy hoạch chung đã được phê duyệt trong năm 2020.

Tỉ lệ phủ kín Quy hoạch chung xây dựng đô thị toàn tỉnh đạt 100%. Tỷ lệ phủ kín Quy hoạch phân khu đạt 62,25%, tăng 4,25%. Tỷ lệ phủ kín Quy hoạch phân khu tại các đô thị trung tâm như thành phố Huế đạt 96,26%; thị xã Hương Trà đạt 19,24%; thị xã Hương Thủy đạt 18,83%. Quy hoạch chi tiết đạt khoảng 14,1%. Hoàn thành lập Quy hoạch nông thôn mới đạt 92/92 xã (100%).

Đã công nhận thêm 03 đô thị loại V: La Sơn, huyện Phú Lộc; Phong An, huyện Phong Điền và Vinh Thanh, huyện Phú Vang, nâng số đô thị loại V lên 10 đô thị. Tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh đạt 54%.

4.2. Về đầu tư xây dựng

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2020 ước đạt 24.500 tỷ đồng, đạt 90,7% KH. Trong đó, vốn ngân sách (chiếm 25% tổng vốn), tăng 34% so cùng kỳ, vượt 7,4% KH; vốn tín dụng (chiếm 41%), giảm 9,1% KH, bằng với cùng kỳ; vốn đầu tư của doanh nghiệp trong nước (chiếm 11%), giảm 22,8 % KH, giảm 18,8%; vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 5%), giảm 52% KH, bằng với cùng kỳ.

Nguồn vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào các dự án chuyển tiếp. Vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương tiếp tục đầu tư vào các dự án trọng điểm quốc gia như: Trung tâm Sản phụ khoa bệnh viện TW Huế; Khu kinh tế quốc phòng A So, A Lưới; Trung tâm phục hồi chức năng đoàn 41 Huế; Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân; bể bơi Trung tâm hoạt động Thanh thiếu niên tỉnh; Học viện Âm Nhạc Huế; Nhà hát Sông Hương;…Các dự án trọng điểm quốc gia đang được đẩy nhanh tiến độ thi công và đưa vào sử dụng[33].

Đề án di dời dân cư, giải phóng mặt bằng khu vực I Kinh thành Huế (giai đoạn 1) cơ bản đáp ứng tiến độ yêu cầu. Đến nay, tỉnh đã cân đối bố trí 500 tỷ đồng từ nguồn ngân sách địa phương để xây dựng các khu tái định cư phục vụ việc di dời dân cư. Hiện đã hoàn thành 02 dự án tái định cư KV1, KV2  diện tích 10ha và đã bàn giao đất xây nhà cho 576 hộ dân, hoàn thành xây dựng nhà ở cho hộ nghèo và trường mầm non. Đang tiếp tục đầu tư thi công 05 khu tái định cư KV3, KV4, KV5, KV6, KV7, KV8 khác có tổng diện tích 53 ha, dự kiến hoàn thành trong tháng 12/2020. Hiện đang triển khai thủ tục chuẩn bị đầu tư 02 dự án tái định cư KV9, KV10 với diện tích 19,9 ha. Hiện nay, tỉnh đang tiến hành giải ngân số tiền 900 tỷ đồng từ nguồn hỗ trợ ngân sách Trung ương để chi trả cho 1.758 hộ. Số hộ dân còn lại đã hoàn thành việc kiểm đếm và áp giá trị bồi thường. Đang tiến hành các thủ tục thiết kế, đấu thầu các công trình quốc phòng để di dời trụ sở Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và Bệnh viện 268 ra khỏi đất di tích khu vực Mang Cá.

Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư vào các dự án gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An, Nhà máy thủy điện ALin B1, ALin B2, Rào Trăng 3; Dự án Movenpic Resort Lăng Cô. Bên cạnh đó, đã tập trung hỗ trợ, đôn đốc 15 dự án khởi công mới; đến nay, đã có 02 dự án khởi công mới: dự án chung cư thương mại Minh Linh tại Khu đô thị Đông Nam Thủy An; dự án nhà máy chế biến cát, bột thạch anh ít sắt chất lượng cao (Huế Premium Silica).

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu của các dự án: Dự án Laguna giai đoạn 2; Dự án Khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn; Hạ tầng khu công nghiệp của Công ty cổ phần Hello quốc tế Việt Nam; Dự án Nhà máy dệt Sunjin AT&C Vina; dự án Nhà máy chế xuất Billion Max Việt Nam; Nhà máy xử lý rác thải Phú Sơn; Nhà máy của Công ty Kanglongda;… với tiến độ triển khai còn chậm.

Lũy kế đến nay, có hơn 200 dự án đang chuẩn bị đầu tư, triển khai xây dựng, chiếm 36% dự án đăng ký đầu tư toàn tỉnh. Vốn đầu tư thực hiện năm 2020 ước đạt khoảng 7.000 tỷ đồng, đạt 70% kế hoạch, giảm 30% so với năm 2019; vốn thực hiện lũy kế đến nay đạt gần 57.000 tỷ đồng, bằng 36,3% tổng vốn đầu tư đăng ký (trong đó địa bàn KKT, KCN ước đạt 30.775 tỷ đồng, đạt 29,3% tổng vốn đăng ký).

Tỷ lệ giải ngân đầu tư công đến ngày 30/11/2020 là 2.618,06 tỷ đồng, đạt 60,01% kế hoạch (trước đó đến ngày 30/9/2020 là 50%). Bao gồm: Vốn ngân sách địa phương đã giải ngân là 1.071/1.388,7 tỷ đồng đạt 77,13%, trong đó vốn ngân sách địa phương giao đầu năm đạt 83,73%; Vốn ngân sách trung ương đã giải ngân 975/1.682,2 tỷ đồng đạt 57,96%; do nguồn trung ương bổ sung trong năm giao muộn (T6/2020), đã giải ngân với 348,9/957,5 tỷ đồng, đạt 36,4%; Vốn nước ngoài vay lại đã giải ngân 15/148,9 tỷ đồng đạt 12,43%; Vốn nước ngoài đã giải ngân 553,1/1.138,7 tỷ đồng đạt 48,57%. Ngoài ra, đang triển khai xây dựng kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2021-2025; xây dựng nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn để phân cấp cho các địa phương cấp huyện giai đoạn 2021-2025.

5. Về quản lý và bảo vệ tài nguyên và môi trường

Tính đến 31/10/2020, đã giao đất 20 dự án với tổng diện tích 38,4 ha; cho thuê đất 62 dự án với diện tích 242,7 ha. Cấp lần đầu cho tổ chức luỹ kế đến nay đã cấp được 9.445 giấy, với diện tích khoảng 216.184,57 ha, đạt 98,92% so với diện tích đất cần cấp, dự kiến đến 31/12/2020 đạt tỷ lệ 99,1%. Cấp lần đầu cho Hộ gia đình, cá nhân... lũy kế đến nay đã cấp được 640.790 giấy, diện tích 126.180,76 ha, đạt tỷ lệ khoảng 98%; dự kiến đến 31/12/2020 đạt 98,56%.

Tính đến 10/11/2020, bổ sung đấu giá giao đất 02 dự án với tổng diện tích 2,05 ha; đấu giá cho thuê đất 03 dự án với diện tích 1,25 ha; Thu tiền sử dụng đất từ đấu giá quỹ đất cấp Tỉnh ước cả năm là 774 tỷ đồng, đạt 76,6% kế hoạch điều chỉnh (1.029 tỷ đồng).

Đã phê duyệt và điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của các địa phương. Đã giao đất cho 11 trường hợp với diện tích 6,18 ha, cho thuê đất 36 trường hợp với diện tích 130,62 ha. Đã ban hành hệ số điều chỉnh giá đất năm 2020; thu hồi đất của 189 công trình, dự án. Tổng số thu tiền sử dụng đất cả năm ước đạt 1.550 tỷ đồng, đạt 194% KH, xấp xỉ cùng kỳ.

Đã cấp 02 Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 14 nguồn thải khí, 03 nguồn nước thải đã truyền dữ liệu quan trắc về cơ quan quản lý môi trường. Đã hoàn thiện hồ sơ xác nhận hoàn thành xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường đối với Làng nghề sản xuất vôi hàu Lăng Cô và gạch ngói Hương Vinh, Hương Toàn (theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003); đang giải quyết dứt điểm làng nghề đúc đồng Phường Đúc, Thủy Xuân, thành phố Huế. Đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh: Dự án Nhà máy xử lý rác sinh hoạt tại xã Phú Sơn; xử lý rác còn tồn đọng tại Nhà máy xử lý rác Tâm Sinh Nghĩa. Tỷ lệ thu gom và xử lý toàn tỉnh đạt 91,4%.

Phong trào Ngày Chủ nhật xanh tiếp tục được hưởng ứng tích cực, mạnh mẽ; triển khai nhiều biện pháp phòng, chống lây lan của dịch bệnh Covid-19 tại nhiều địa điểm di tích, danh lam thắng cảnh; các cơ quan, trường học và các khu dân cư: dọn vệ sinh, trồng cây xanh, phun thuốc khử trùng, tiêu độc,…

6. Lĩnh vực văn hóa - xã hội

6.1. Văn hóa - thể thao

Nhiều hoạt động văn hóa, lễ hội trong năm bị tạm hoãn hoặc tạm dừng, nhất là đã tạm đóng cửa các điểm tham quan di tích, hoãn tổ chức Lễ hội Festival Huế 2020 đã ảnh hưởng lớn đến phát triển du lịch. Ước năm 2020, lượt khách tham quan các bảo tàng, di tích, danh lam, thắng cảnh đạt 964 nghìn lượt, giảm 71% so cùng kỳ; doanh thu bán vé đạt 113 tỷ đồng.

Đã công nhận, xếp hạng 02 di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh[34]; tiến hành trùng tu, tôn tạo 26 di tích. Đang xây dựng phương án khai thác, mở rộng các hoạt động dịch vụ tại các hệ thống di tích bên ngoài khu vực Hoàng Thành như: Khu Thượng Thư đường Bộ Lại; Di tích Cung An Định; Di tích Eo Bầu Nam Xương, Nam Thắng. Trùng tu tôn tạo 11 di tích thuộc Quần thể di tích cố đô Huế và 7 di tích ngoài quần thể; kinh phí bố trí đạt 121,081 tỷ đồng.

Tổ chức thành công Hội thảo “Huế - Kinh đô áo dài”, phối hợp tổ chức Lễ tri ân Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Triển khai các nội dung Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển thương hiệu Huế - Kinh đô áo dài". Hoàn thành việc di dời các hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử tỉnh về vị trí mới (268 Điện Biên Phủ, TP. Huế); xây dựng phương án thực hiện giai đoạn 2 của dự án di dời hiện vật (bảo quản, đầu tư hệ thống bục nâng, giá đỡ, chiếu sáng mỹ thuật…) nhằm sớm đưa vào trưng bày phục vụ khách tham quan.

Tổ chức tuyên truyền chào mừng các ngày lễ lớn trong năm 2020; tuyên truyền về xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là Trung tâm văn hóa du lịch đặc sắc của cả nước, thành phố văn hóa ASEAN; tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XVI, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII.

Đã tổ chức 23 cuộc trưng bày, triển lãm; xây dựng được 14 chương trình nghệ thuật, tổ chức 60 buổi biểu diễn nghệ thuật; các bảo tàng đón trên 70.000 lượt khách đến tham quan. Thư viện Tổng hợp đã cấp 1.470 thẻ bạn đọc, phục vụ 15.500 lượt bạn đọc/ 39.861 lượt sách, báo luân chuyển.

Tiếp tục Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đến nay, toàn tỉnh có 290.392 gia đình; trong đó, tỷ lệ đăng ký xây dựng gia đình văn hóa đạt 93,64%; tỷ lệ được công nhận gia đình văn hóa đạt 92,9% so với số đăng ký; 1.131 làng, thôn, tổ dân phố, trong đó đăng ký xây dựng khu dân cư văn hóa là 1.126 đơn vị, 989 khu dân cư văn hóa, đạt tỷ lệ 87,44% so với tổng số khu dân cư; 1,262/1,367 cơ quan, đơn vị, trường học đăng ký xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, đạt tỷ lệ 92,3%; có 1.117 cơ quan, đơn vị được công nhận đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 88,5% so với đăng ký; 17/145 xã, phường, thị trấn được công nhận xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới (13 xã), phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị (04 phường, thị trấn).

Tham gia các giải thể thao được tổ chức tại các địa phương trên cả nước đạt được tổng số 230 huy chương các loại (trong đó: 60 HCV, 70 HCB, 100 HCĐ).

6.2. Giáo dục - đào tạo

Mạng lưới trường lớp[35] mầm non, phổ thông và các cơ sở giáo dục được sắp xếp, sáp nhập hợp lý. Đến nay, tỷ lệ phòng học kiên cố toàn tỉnh là: 83,47%[36], có 374 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 65,61%[37]; có 399 trường mầm non và trường phổ thông đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục, chiếm 70%[38]. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT toàn tỉnh đạt 96,21% (tăng 5,86% so với năm 2019). Tại kỳ thi học sinh giỏi THPT quốc gia có 75 học sinh, kết quả đạt 52 giải[39].

Công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ tiếp tục nâng cao về chất lượng và số lượng[40]. Chất lượng và trình độ chuẩn của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ngày được nâng cao[41].

Toàn tỉnh có 100% trường tiểu học dạy học tiếng Anh và tiếp tục triển khai chương trình Tiếng Anh 10 năm ở cả 3 cấp học, đạt tỷ lệ: cấp THCS chiếm 92,3% và THPT chiếm 44,8%.

Công tác giáo dục đạo đức, lối sống học sinh được quan tâm, phát huy tốt các phong trào thi đua “Nét đẹp văn hóa học đường”, hưởng ứng Ngày Chủ nhật xanh và phong trào “Chống rác thải nhựa” và “Nói không với túi ni lông sử dụng 01 lần” trong trường học; phòng chống tội phạm, ma túy học đường, an toàn giao thông;…. Đã triển khai việc đưa nghệ thuật Ca Huế vào trường học, lồng ghép giáo dục văn hóa Huế vào chương trình học. Đặc biệt, đã hoàn thành khung chương trình giáo dục địa phương và xuất bản đưa vào sử dụng trong năm học 2020-2021[42].

Công tác phòng chống dịch Covid-19 trong trường học được triển khai kịp thời: Đã ban hành bộ tiêu chí đánh giá mức độ an toàn phòng, chống dịch COVID-19 trong trường học; với phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng việc học”, đã tổ chức dạy học online, dạy học trên truyền hình mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

Tính đến ngày 23/10/2020, Đại học Huế có 9.486 sinh viên trúng tuyển nhập học trên 14.250 chỉ tiêu dự kiến tuyển sinh. Đã chuẩn bị tốt các điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện hỗ trợ, an ninh, an toàn… trong tình hình phòng, chống dịch Covid-19[43].

Việc thực hiện xây dựng Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia hiện đang tiến hành Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng Đại học Huế 2022-2030[44]; theo đó đã trình Bộ Giáo dục và Đào tạo Đề án chuyển đổi công năng hoặc chuyển nhượng một số cơ sở nhỏ lẻ, kém hiệu quả (ở số 2 Lê Lợi, số 5 và 7 Hà Nội, số 27 Phan Đình Phùng) để tập trung đầu tư về khu đô thị Trường Bia, thành phố Huế; xây dựng Viện Công nghệ sinh học thành Trung tâm Công nghệ sinh học cấp Quốc gia, cơ bản đã đền bù giải phóng mặt bằng khu quy hoạch tại xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện đang lập Quy hoạch chi tiết[45].

6.3. Dân số, Y tế và chăm sóc sức khỏe

Tình hình thực hiện các chỉ tiêu y tế: Dự ước đến cuối năm 2020: Số bác sỹ/vạn dân đạt 15,9 người; Số giường bệnh/vạn dân: 58,7; Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế: 99,05%; Mức giảm sinh: <0,2‰; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: <10,8‰; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng theo cân nặng <7,6% và theo chiều cao <10,4%; Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên: 14,5%; Giảm tỷ lệ mắc do bệnh truyền nhiễm gây ra.

Mạng lưới y tế cơ sở cơ bản phát triển khá hoàn chỉnh gồm 7 bệnh viện, trong đó 03 Bệnh viện hạng II. Tuyến huyện có 9/9 trung tâm y tế huyện, thị xã, TP. Huế thành lập theo mô hình đa chức năng; trong đó 5/9 trung tâm y tế được xếp hạng BV hạng II; 145/145 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Bên cạnh đó, có 4 trạm Y tế phường - xã và 01 phòng khám tư nhân thành lập theo mô hình phòng khám Bác sĩ gia đình.

Các thiết chế của trung tâm y tế chuyên sâu, các bệnh viện chuyên khoa và Trung tâm đầu ngành tiếp tục được đầu tư đồng bộ, hiện đại[46]. Bệnh viện Trung ương Huế là đơn vị hạt nhân, cùng với Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế đã triển khai nhiều kỹ thuật tiên tiến về chẩn đoán và điều trị chuyên sâu[47]. Trường Đại học Y Dược Huế không ngừng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo; phát triển theo mô hình Trường viện cấp Quốc gia và hướng đến tiêu chuẩn Quốc tế. Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc - mỹ phẩm - thực phẩm đã đáp ứng yêu cầu của khu vực. Hệ thống phòng kiểm nghiệm được công nhận đạt tiêu chuẩn trên 3 lĩnh vực: dược, hóa, sinh học. Bệnh viện Y học cổ truyền dân tộc và các cơ sở y tế tư nhân tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.

Năm 2020, toàn ngành có 3.104 công chức, viên chức và người lao động; số lượng công chức, viên chức và người lao động y tế có trình độ sau đại học là 384 người, có trình độ đại học 1.088 người. Số Bác sỹ là 702 người, Dược sỹ là 259 người, Điều dưỡng là 601 người. Chất lượng đội ngũ y tế ngày được nâng cao[48]. Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực y tế, y học được đẩy mạnh.

Công tác khám chữa bệnh ứng dụng công nghệ thông tin đồng bộ phục vụ hoạt động khám chữa bệnh và thanh toán BHYT. Triển khai có hiệu quả các phần mềm phục vụ công tác chuyên môn, các chương trình mục tiêu quốc gia[49].

Tính đến ngày 30/9/2020 tổng số lượt khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập thuộc Sở Y tế là 1.591.250 người[50], giảm 11,6% so với cùng kỳ (1.807.829). Công tác y tế dự phòng, phòng chống bệnh dịch được kiểm soát và khống chế, ngăn chặn kịp thời. Chương trình tiêm chủng được quan tâm và ngày càng có chất lượng. Tổ chức giám sát chặt chẽ tình hình bệnh truyền nhiễm trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Chương trình phòng, chống HIV/AIDS đạt kết quả tích cực, nhiều năm tỷ lệ nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh ở mức dưới 0,3%; 100% bệnh nhân điều trị HIV/AIDS tại các cơ sở y tế đã có thẻ BHYT.

Công tác phòng, chống dịch Covid-19 đã triển khai quyết liệt, kịp thời, đồng bộ, chặt chẽ trong việc phòng, chống, ngăn chặn, kiểm soát dịch bệnh. Đã kịp thời thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Kích hoạt “Sở Chỉ huy tiền phương phòng chống dịch Covid 19”; tổ chức họp giao ban Ban Chỉ đạo hằng ngày và thông cáo báo chí trên trang Thông tin điện tử của UBND tỉnh https://thuathienhue.gov.vn/vi-vn/; thành lập 23 Đội phản ứng nhanh tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và 09 Trung tâm Y tế thường trực 24/7; triển khai 09 chốt kiểm tra y tế liên ngành, triển khai kiểm tra thân nhiệt đối với các hành khách đến Huế tại sân bay Phú Bài; kiểm dịch biên giới, cửa khẩu, cảng Thuận An, Chân Mây. Xây dựng kịch bản khi có F0 trên địa bàn với phương châm "4 tại chỗ"; Kích hoạt đường dây nóng 19001075 để tiếp nhận thông tin liên quan đến Covid-19; Xây dựng Bộ qui tắc ứng xử trong phòng chống dịch Covid... Đã thực hiện cách ly tập trung 6.375 người tại 12 cơ sở cách ly; huy động các cơ sở lưu trú, chuyển đổi công năng một số bệnh viện phục vụ cách ly. Tổ chức diễn tập các tình huống tiếp nhận, điều trị bệnh nhân ở tuyến huyện, cơ sở chữa bệnh tại huyện Phú Vang, Bệnh viện Trung ương Huế.

6.4. Về phát triển khoa học, công nghệ và công nghệ thông tin

- Phát triển khoa học, công nghệ

Hạ tầng và thiết chế khoa học - công nghệ ngày càng hoàn chỉnh với các trường đại học, cao đẳng; viện, phân viện và trung tâm nghiên cứu thuộc các bộ, ngành[51]. Từng bước hình thành khu công nghệ thông tin tập trung tại Khu đô thị An Vân Dương; xúc tiến kêu gọi đầu tư vào Khu công nghiệp công nghệ cao tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô. Toàn tỉnh có 27 tổ chức hoạt động trên các lĩnh vực tư vấn dịch vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ. Đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ phát triển về số lượng, chất lượng[52].

            Hoạt động Sở hữu trí tuệ được chú trọng: đã hướng dẫn 85 tổ chức, cá nhân trên địa bàn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp trong đó 45 đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp và 15 văn bằng bảo hộ (giấy chứng nhận) được cấp; ban hành Quy chế quản lý chỉ dẫn địa lý "Huế" cho sản phẩm nón lá và sản phẩm tinh dầu tràm ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đã tổ chức kiểm tra liên quan về đo lường, tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại 02 Siêu thị, 05 chợ, 32 cơ sở kinh doanh hàng hóa trong đó có 23 cửa hàng kinh doanh xăng dầu. Qua đó đã kịp thời phát hiện, xử lý những trường hợp vi phạm[53]. Tiếp tục triển khai thực hiện Kế hoạch xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh.

Tổ chức triển khai áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc sử dụng mã QR cho 07 doanh nghiệp, cơ sở; triển khai Đề án Tư vấn hướng dẫn, đánh giá áp dụng Tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt theo GMP tại 03 doanh nghiệp/cơ sở và Đề án “Tư vấn hướng dẫn, đánh giá áp dụng Hệ thống quản lý An toàn thực phẩm theo Tiêu chuẩn ISO 22000/HACCP tại 01 doanh nghiệp/cơ sở” thuộc Dự án năng suất chất lượng.

- Công nghệ thông tin

Đã xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh với 10 dịch vụ đô thị thông minh. Hệ thống có chức năng tiếp nhận phản ánh, theo dõi xử lý tất cả các vấn đề của người dân thông qua các công cụ chính: Cổng thông tin dịch vụ đô thị thông minh; ứng dụng di động đô thị thông minh Hue-S, Hue-G; mạng xã hội Facebook, Zalo; tổng đài nóng. Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh với các trang thiết bị hiện đại, tích hợp các công nghệ tiên tiến…đã góp phần xây dựng tỉnh phát triển thông minh và bền vững. Đã đoạt giải danh hiệu Sao Khuê 2020 cho Giải pháp phản ánh hiện trường là dịch vụ xuất sắc lĩnh vực chuyển đổi số.

Tập trung xây dựng dịch vụ đô thị thông minh, chính quyền điện tử (xếp thứ 1 năm 2019) và nâng cao chỉ số sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin (ICT) của tỉnh. Đưa vào khai thác hệ thống thông tin địa lý (GISHue), tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành và ứng dụng công nghệ GIS. Trung tâm Công nghệ thông tin tỉnh (HueCIT) trở thành thành viên của Chuỗi Công viên phần mềm Quang Trung, tạo tiền đề hình thành khu CNTT tập trung của tỉnh.

Toàn tỉnh hiện có khoảng 170 doanh nghiệp CNTT[54] với tổng số lao động khoảng 1.700 người. Hiện nay, tỉnh đã có vườn ươm CNTT, đã thành lập Hội công nghiệp phần mềm tỉnh. Đã ban hành một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó có quy định hỗ trợ cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT.

6.5. Lao động việc làm, an sinh xã hội

- Giải quyết việc làm - dạy nghề

Tính đến 31/10, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm mới cho hơn 8.109 lao động. Dự ước cả năm giải quyết 12.500 lao động, giảm 22% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã dẫn đến7.500 lao động bị thôi việc, mất việc, chiếm 12% lực lượng lao động trên địa bàn. Dự ước năm 2020  giải quyết việc làm cho 12.500 người, đạt 78,1% so với kế hoạch (500 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng). Đã giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 9.755 người, tăng 75 %, với tổng số tiền chi là 141.374 triệu đồng, số người được hỗ trợ học nghề là 189 người với số tiền chi là 684,2 triệu đồng. Dự ước cả năm 2020 giải quyết trợ cấp thất nghiệp 13.000 người với tổng số tiền chi khoảng 188 tỷ đồng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 65,45%, xấp xỉ đạt Kế hoạch là 66%.

Số người tham gia BHXH bắt buộc ước đạt 126.974 người, chiếm 95,93% so với số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc; Số người tham gia BHXH tự nguyện đạt 14.000 người, đạt 3,2% so với số người thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện; số người tham gia BHTN: 116.107 người, đạt 95,61%; số người tham gia BHYT: 1.122.605 người. Tỷ lệ bao phủ BHYT toàn tỉnh đạt 99,05% so với dân số.

- Công tác giảm nghèo: Dự kiến mức giảm tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 0,3% - 0,5% (kế hoạch năm 2020 giảm 0,5%); tương ứng tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,67 – 3,87% đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu giảm nghèo cho cả giai đoạn 2016-2020.
- Chăm lo chính sách xã hội, người có công và công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới

Toàn tỉnh có 19.664 người có công, 56.795 đối tượng xã hội đang hưởng trợ cấp hàng tháng. Đã tổ chức chu đáo việc thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán và ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7). Tổ chức tiếp nhận 1.148 hồ sơ và đã giải quyết 1.095 hồ sơ.

Đã có 3.512 hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ vay từ Ngân hàng chính sách xã hội với tổng số tiền là 145.94 tỷ đồng, xây dựng được 101 ngôi nhà tình nghĩa, cấp phát 594.574 thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Tổ chức các đợt tặng quà cho các đối tượng chính sách, người có công, hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội khác với tổng số tiền đạt 192.55 tỷ đồng.

- Công tác triển khai gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 15/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Đã hoàn thành việc chi hỗ trợ cho 03 nhóm đối tượng (Người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội) cho 134.293 người với số tiền là 148.324 triệu đồng[55]. Đã ban hành Quyết định chi hỗ trợ cho 04 nhóm đối tượng còn lại (NLĐ tạm hoãn HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương; NLĐ chấm dứt HĐLĐ, HĐLV không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; hộ kinh doanh; NLĐ làm việc không giao kết HĐLĐ) cho 24.804 người với số tiền là 24.934 triệu đồng[56]. Bên cạnh đó, đã hoàn thành hỗ trợ từ nguồn huy động thông qua Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam để hỗ trợ cho các đối tượng khác gặp khó khăn do dịch Covid-19 với tổng số tiền trên 939,75 triệu đồng[57].

7. Cải cách hành chính, nội vụ, đối ngoại

7.1. Đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng Chính quyền điện tử

Công tác CCHC được chỉ đạo quyết liệt với nhiều giải pháp đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm trình tự, thủ tục. Triển khai Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước xây dựng chính quyền điện tử. Hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản đáp ứng yêu cầu hoạt động của các cơ quan nhà nước và kết nối với trục liên thông văn bản quốc gia. Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, cấp huyện và Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại cấp xã, tạo thuận lợi và nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính[58]. 100% sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã có Trang thông tin điện tử (TTĐT); 88,8% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (tăng 0,7%).

Các chỉ số CCHC của tỉnh có nhiều tiến bộ: Chỉ số PAR (Index) xếp vị thứ 13 (tăng 3 bậc so với năm 2018); Chỉ số ICT xếp vị thứ 2 (tăng 3 bậc so với năm 2018), Chỉ số PCI xếp vị thứ 20 (tăng 10 bậc so với năm 2018), chỉ số PAPI xếp vị thứ 5 (tăng 38 bậc so với năm 2018).

7.2. Sắp xếp tổ chức bộ máy, nội vụ

Đã tập trung triển khai, chỉ đạo thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, đảm bảo ngày càng hoạt động ổn định, hiệu lực, hiệu quả, đổi mới quy trình đánh giá cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) và ban hành bộ quy tắc ứng xử của CBCCVC trong thực thi công vụ. Đã tổ chức lại, hợp nhất, thành lập mới các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh giảm 83 đơn vị so với cuối năm 2015, đạt tỷ lệ 10,64%, giảm 2.670 biên chế công chức và viên chức, đạt tỷ lệ 8,71%. Phê duyệt danh mục vị trí việc làm cho 50/50 đơn vị, địa phương với 708/708 đơn vị sự nghiệp công lập[59]. Tổ chức lại các phòng chuyên môn thuộc Sở Công Thương; tổ chức lại các phòng chuyên môn và Chi cục trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; kiện toàn cơ cấu tổ chức, biên chế các phòng, ban của Hội Chữ thập đỏ tỉnh; thành lập Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao thành phố Huế trên cơ sở hợp nhất Đài Truyền thanh, Bảo tàng Văn hóa Huế và Trung tâm Văn hóa và Thể thao; phê duyệt Đề án khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Các sở, ban, ngành còn lại và UBND các huyện, thị xã, thành phố đang xây dựng phương án tổ chức lại các phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

7.3. Công tác thông tin truyền thông được đẩy mạnh tạo sự đồng thuận cao trong xã hội

Đã tập trung thông tin đầy đủ, kịp thời cung cấp cho báo chí hàng ngày trên Cổng Thông tin Điện tử của tỉnh, website, mạng xã hội... và tổ chức họp báo vào chiều thứ sáu hàng tuần tại Văn phòng UBND tỉnh. Hệ thống Trang điều hành đô thị thông minh và Trung tâm hành chính công các cấp đã xử lý kịp thời các phản ánh của người dân và doanh nghiệp đồng thời cung cấp thông tin công khai, minh bạch được người dân, doanh nghiệp đồng tình, ủng hộ. Tích cực rà soát, ngăn chặn các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội.

7.4. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế

Đến nay, đã có quan hệ hợp tác, hữu nghị, kết nghĩa với 45 quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ; đã thiết lập mối quan hệ, giao lưu kết nghĩa và hợp tác phát triển với gần 20 thành phố là Cố đô, thành phố di sản, thành phố du lịch trên thế giới. Trong năm 2020, chỉ đón tiếp và làm việc với 408 đoàn khách quốc tế/2208 lượt người đến thăm, làm việc, tìm hiểu cơ hội hợp tác, xúc tiến đầu tư - thương mại, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế (giảm 499 đoàn/3527 lượt người so với cùng kỳ năm ngoái) do tác động của dịch bệnh Covid-19. Đã ký kết 02 Bản ghi nhớ hợp tác với 02 đối tác nước ngoài, chuẩn bị ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Chính quyền tỉnh Ubon Ratchathani/Thái Lan. Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các đối tác Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào; tiếp tục nghiên cứu xúc tiến mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác Nga, Ấn Độ, Rumani.

Năm 2020, đã tiếp nhận 22 khoản viện trợ dự án và phi dự án với tổng vốn cam kết là 807.020 USD. Tính đến nay, có 55 dự án (phi dự án 10 dự án) đang còn hoạt động với tổng giá trị cam kết 10,39 triệu USD và trên 100 tổ chức PCPNN hoạt động (23 tổ chức có văn phòng đại diện).

Công tác quản lý biên giới luôn được chú trọng, củng cố và tăng cường trên tất cả các lĩnh vực với các tỉnh giáp biên của nước bạn Lào; theo dõi, cập nhật tình hình của nước bạn Lào về phòng, chống dịch Covid-19, đặc biệt là các chủ trương, chính sách của Chính phủ Lào có thể tác động đến Việt Nam vấn đề lao động, lưu học sinh, …

8. Quốc phòng, an ninh; trật tự xã hội và phòng chống cháy nổ

8.1 Quốc phòng

Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến kiến thức quốc phòng, an ninh được triển khai sâu rộng. Công tác diễn tập khu vực phòng thủ các cấp đạt kết quả tốt. Tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ luôn hoàn thành chỉ tiêu được giao.Toàn tỉnh, có hơn 1.300 thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ, các địa phương đã tổ chức chu đáo, nhanh gọn lễ giao nhận quân năm 2020, đảm bảo đúng yêu cầu và được kiểm soát chặt chẽ trong phòng dịch Covid-19. Đã xây dựng kế hoạch bảo vệ an toàn tuyệt đối công sở và an ninh trật tự tại các địa điểm công cộng, khu dân cư, các địa bàn trọng điểm. Tăng cường các biện pháp phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; phòng, chống cháy nổ; tổ chức các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm. Bảo vệ vững chắc chủ quyền trên hai tuyến biên giới; đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới, vùng biển. Thực hiện tốt công tác đối ngoại biên phòng, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Làm tốt công tác tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc quốc giới, cửa khẩu biên giới Việt Nam - Lào.

8.2 Về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phòng chống cháy nổ

Đã triển khai có hiệu quả nhiều đề án, phương án, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; không để xảy ra bất ngờ, phát sinh “điểm nóng”, không để xảy ra biểu tình, tuần hành trái pháp luật. Triển khai có hiệu quả Đề án điều động công an chính quy đảm nhiệm chức danh công an xã.

Tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông, tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh giảm cả 03 tiêu chí so với cùng kỳ; từ đầu năm đến ngày 14/11/2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 258 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 77 vụ; làm chết 135 người, giảm 43 người; bị thương 197 người, giảm 73 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 254 vụ, giảm 69 vụ; làm chết 133 người, giảm 38 người; bị thương 195 người, giảm 72 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 4 vụ, giảm 8 vụ; làm chết 2 người, giảm 5 người; bị thương 2 người, giảm 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra.

Công tác phòng chống cháy nổ trên địa bàn tỉnh luôn được các cấp, các ngành và các địa phương đặc biệt quan tâm. Thường xuyên tuyên truyền, cảnh báo trên các phương tiện thông tin đại chúng công tác phòng chống cháy nổ. Từ đầu năm đến nay đã xảy ra 35 vụ cháy với 5 người chết, thiệt hại 2.078 triệu đồng.

9. Tình hình thiệt hại đại dịch Covid-19 và thiên tai gây ra

9.1 Tình hình thiệt hại đại dịch Covid-19

Dịch bệnh Covid-19 lan nhanh, rộng và xảy ra trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế: Giai đoạn 1 (từ 27/01/2020 đến 25/07/2020): phát hiện 02 ca dương tính khách du lịch nước ngoài, 02 bệnh nhân Covid dương tính được chuyển từ Quảng Nam được điều trị tại BVTW Huế cơ sở 2. Giai đoạn 2 (từ 26/7/2020 đến 13/10/2020): không phát hiện trường hợp dương tính với COVID-19 trên địa bàn tỉnh và tiếp nhận 23 bệnh nhân Covid dương tính từ các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị chuyển đến[60].

Dịch Covid-19 đã tác động, ảnh hưởng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực. Đặc biêt, trong đó ngành dịch vụ du lịch thiệt hại nặng nề (lượng khách giảm 60%; doanh thu du lịch giảm 64%); vận tải (vận tải hành khách giảm trên 30%), xuất nhập khẩu (giảm 16%); hơn 10.000 lao động bị thất nghiệp; học sinh, sinh viên bị nghỉ học dài ngày (đặc biệt 30.000 sinh viên ngoại tỉnh), doanh thu thiệt hại ước khoảng 11.000 tỷ đồng[61],... Bên cạnh đó, chi phí phát sinh trong công tác phòng, chống dịch đảm bảo an toàn cho người cách ly và cán bộ phục vụ (có hơn 20.000 người từ các nơi khác trở về địa phương (trong đó, hơn 8.500 người trở về từ Lào). Đã hỗ trợ người dân do ảnh hưởng dịch Covid -19 với tổng kinh phí hỗ trợ hơn 166 tỷ đồng gồm: 03 nhóm đối tượng: người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội: Hoàn thành chi hỗ trợ với 134.293 người với kinh phí 148.324,75 triệu đồng theo định mức quy định của Chính phủ; 04 nhóm đối tượng người lao động[62] đã chi trả 16.906 đối tượng với tổng số tiền chi trả là 16.964 triệu đồng. Ngoài ra, từ nguồn ngân sách địa phương vận động thông qua Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, đã hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng gặp khó khăn do dịch Covid-19 với kinh phí 939,75 triệu đồng.

9.2 Tình hình thiệt hại do ảnh hưởng thiên tai

Năm 2020, Thừa Thiên Huế bị ảnh hưởng nặng nề do thiên tai, đặc biệt các trận mưa lớn vào cuối vụ Đông Xuân gây ngập, úng làm giảm năng suất nhiều loại cây trồng đến kỳ thu hoạch (giảm trên 10.000 tấn lúa). Vào thời điểm cuối năm, các trận bão, lụt xảy ra liên tiếp xảy ra và kéo dài gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng và tài sản của nhân dân, cụ thể: Cơn bão số 05 (ngày 18/9) làm 04 người chết, 92 người bị thương; 10 nhà bị sập, 21.283 nhà bị hư hại, tốc mái; sản xuất nông lâm ngư nghiệp với gần 3.000 ha bị thiệt hại; các công trình hạ tầng bị thiệt hại nghiêm trọng (đặc biệt hệ thống điện hư hỏng đến 80%); Đợt mưa lũ đặc biệt lớn từ ngày 6-22/10 gây sạt lở nghiêm trọng tuyến đường 71 (Phong Điền - A Lưới), tuyến đường Quốc lộc 49A, Quốc lộ 49B đã làm 32 người chết (13 người chết do mưa lũ; 6 công nhân nhà máy thủy điện Rào Trăng 3; 13 người trong đoàn công tác tại khu vực Trạm quản lý bảo vệ rừng Tiểu khu 67), 11 người mất tích tại nhà máy thủy điện Rào Trăng 3, 36 người bị thương; có 137.205 nhà/581.890 người bị ảnh hưởng của 128/145 phường xã bị ngập (86% số xã toàn tỉnh) với độ ngập 1-2,5m; Cơn bão số 9 làm 14 người bị thương,…. Ngoài ra, đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp, giao thông, công trình cấp nước sinh hoạt, thông tin liên lạc,…. Giá trị thiệt hại ước tính trên 2.000 tỷ đồng, chiếm 3,5% GRDP của tỉnh.



[1] Nhờ đóng góp của các dự án mới và một số sản phẩm tăng do mở rộng công suất của một số nhà máy. Bên cạnh đó, một số sản phẩm chủ lực giảm như Bia, xi măng, đồ lót, ....

[2]giảm phí tham quan di tích, ban hành Bộ tiêu chí đánh giá an toàn trong phòng, chống dịch COVID-19, triển khai xây dựng nhãn hiệu chứng nhận “Huế - Kinh đô ẩm thực”, phê duyệt đề án phục hồi, kích cầu phát triển du lịch Thừa Thiên Huế (giai đoạn 2020-2021) theo Quyết định số 1219/QĐ-UBND ngày 20/5/2020,…

[3] dừng tổ chức Festival Huế 2020, tạm thời đóng cửa các điểm tham quan,...

[4] A Lưới (A Nor, A Roàng, Par Le,…), Hương Thủy (Thanh Toàn, Chín Chàng), Phong Điền (Phước Tích, A Đon, Khe Me, Hầm Heo,…), Phú Lộc (Lộc Bình, Nhị Hồ, Thủy Yên…), Quảng Điền (Cồn Tộc, Ngư Mỹ Thạnh…), Hương Trà (Thanh Phước, Khe Đầy,..), Nam Đông (Thác Mơ, Thác Phướng,...).

[5]có 10 siêu thị (2 siêu thị hạng I, 8 siêu thị hạng III); 3 trung tâm thương mại hạng III; 35 cửa hàng tiện lợi (cửa hàng Vinmart+: 30 cái; Cửa hàng của doanh nghiệp khác: 05 cái)

[6] DA đầu tư quản lý, khai thác Chợ và TTTM Lăng Cô đang tiến hành các thủ tục đầu tư (250 tỷ); dự án công trình nâng cấp, cải tạo chợ Truồi-Lộc An (40 tỷ đồng);....

[7]Trong đó, có 33 DN SX, gia công, cung cấp dịch vụ phần mềm; 06 DN SX và cung cấp dịch vụ nội dung thông tin số; 97 doanh nghiệp phần cứng và 34 doanh nghiệp về dịch vụ CNTT.

[8] Công ty: HBI, Scavi đã chuyển 1 số HĐ sang may khẩu trang gia công cho các đối tác nước ngoài; Các Công ty dệt may trong tỉnh như Dệt may Huế, Dệt may Thiên An Phát, Dệt may Thiên An Phúc, Cty Vinatext Hương Trà, Công ty CP Da giày Huế.... may khẩu trang phục vụ tiêu thụ nội địa và thực hiện lại các HĐ gia công khẩu trang cho Công ty HBI và Công ty Scavi.

[9] Khu đô thị Phú Mỹ An, The Manor, Apecland, Đông Nam Thủy An,...

[10] Tổ hợp NM SX  lắp ráp ô tô của Công ty CP Công nghiệp Chế tạo ô tô Bách Việt (qui mô 2,655.5 tỷ đồng, diện tích 50 ha); NM gia công thạch anh Chân Mây (38.8 tỷ đồng, 03 ha); NM Nakamoto Việt Nam của Công ty Nakamoto Packs Co., LTD(185.2 tỷ đồng, 2.5 ha); NM SX trang phục bảo hộ Scavi Med (69.7 tỷ đồng, 01 ha); Dự án Khai thác đá làm vật liệu xây dựng thông thường và đất làm vật liệu san lấp tại mỏ đá khu vực núi Phú Gia, xã Lộc Tiến của Công ty TNHH Toàn Tâm (11.1 tỷ đồng, 7.6 ha)

[11]trong đó  cấp mới 3.065,5 tỷ đồng, và điều chỉnh vốn 04 dự án với vốn điều chỉnh tăng 2.109 tỷ đồng

[12] Một số dự án lớn như: Dự án Khu du lịch sinh thái Bãi Cả với vốn đăng ký 2.529 tỷ đồng; Dự án Đầu tư XD và KD kết cấu hạ tầng KCN Phú Bài giai đoạn IV, đợt 2 (3.000 tỷ đồng); Dự án Excel Chân Mây của Công ty TTN và Quốc tế Đại Việt (200 tỷ đồng), Dự án SX đá tấm thạch anh nhân tạo Lux Quartz của Công ty TNHH MTV Lux Quarts (20 tỷ đồng).

[13] Phân theo địa bàn: KKT Chân Mây – Lăng Cô chiếm 32% về số dự án và 77% về vốn đăng ký; các KCN chiếm 68% về dự án và 23% về vốn đăng kýPhân theo nguồn vốn: dự án ĐTNN chiếm 33% về số dự án và chiếm 65% về vốn; dự án đầu tư trong nước chiếm 67% về số dự án và chiếm 35% về vốn.

[14] KCN Phong Điền: Khu A tỷ lệ lấp đầy 29,1%; Khu B thu hút 06 dự án, tỷ lệ lấp đầy 25,2%; Khu C đã thu hút 02 dự án, tỷ lệ lấp đầy 8,5%; Khu Viglacera thu hút được 01 dự án, tỷ lệ lấp đầy 17,2%.

[15] KCN Phú Bài: GĐ 1 và 2 đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung với công suất 6.500 m3 ngày/đêm (đang hoạt động đạt 40% công suất thiết kế); KKT CMLC có hệ thống xử lý nước thải công suất 4.700 m3 ngày/đêm

[16] KCN Phong Điền: Khu C đang tiến hành XD trạm xử lý nước thải 4.000 m3 ngày/đêm, dự kiến hoàn thành Quý II/2021; Khu Viglacera đang XD trạm nước thải gđ1 4.000 m3/ngày đêm, dự kiến đi vào hoạt động Quý I/2021. KCN Tứ Hạ: hoàn thành thủ tục chấp thuận tổng mặt bằng khu xử lý nước thải 3.500 m3/ngày đêm và đang lập hồ sơ thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công, dự kiến hoàn thành Modul 1 với công suất 1.000 m3/ngày đêm trong cuối năm này.

[17]phát triển với hơn 52.000 m2 nhà lưới; 173,4 ha SX theo tiêu chuẩn VietGap; 386,9 ha SX theo hướng hữu cơ,....

[18]Có doanh thu/năm đạt từ 1 tỷ đồng trở lên theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ NN và PTNT.

[19] Sản lượng thịt các loại: thịt lợn 23.800 tấn, tăng 1,7%; thịt gia cầm 12.400 tấn, tăng 34%; thịt bò 1.460 tấn, tăng 0,7%, thịt trâu: 1.050 tấn, tăng 1%

[20] Diên tích 15 ha, quy mô 8-10 nghìn con lợn thương phẩm, lợn nái sinh sản nguồn giống (đạt từ 3 đến 3,5 nghìn con giống). Mô hình nuôi theo chuỗi chăn nuôi an toàn: sản xuất chế phẩm, men vi sinh phục vụ chăn nuôi trồng trọt hữu cơ (công suất 50.000 tấn/năm); SX thức ăn chăn nuôi hữu cơ không hóa chất (công suất 100.000 tấn/năm)

[21]Kết quả: Đã thực hiện 12 cuộc kiểm tra đối với 67 đối tượng; đã phát hiện 01 trường hợp vi phạm, tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính 25.000.000 đồng.

[22] trong đó tàu cá xa bờ 390 chiếc (dài 15 mét trở lên); xóa đăng ký 156 chiếc do bán ra ngoại tỉnh.

[23]OCOP hạng 4 sao: Bộ sản phẩm đèn trang trí, rổ, rá; Trà rau má Quảng Thọ; Khăn choàng dèng Nhâm; hạng 3 sao: Gạo Phú Hồ, Mật ong ruồi Nam Đông, Nước mắm cá Như Ý

[24] Kế hoạch số 114/KH-UBND ngày 06/5/2020, toàn tỉnh thu hút được 20 dự án của các nhà đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn cam kết khoảng 10.000 tỷ đồng, tương đương 400 triệu đô la Mỹ.

[25] trong đó 16 dự án thuộc danh mục cần rà soát xem xét thu hồi, 08 dự án thuộc danh mục giám sát đặc biệt và 05 dự án thuộc danh mục cần đôn đốc tiến độ

[26] Theo Công văn số 9718/UBND-QHXT ngày 19/12/2019 về việc triển khai thực hiện các nội dung giám sát đầu tư, theo đó có 114 dự án cần theo dõi tiến độ, trong đó 42 dự án trùng với danh sách dự án theo Nghị quyết 08/NQ-HĐND; 72 dự án bổ sung mới

[27] trong đó thành lập mới 8.313 tỷ đồng, giảm 7% về lượng và giảm 15% về vốn; điều chỉnh tăng vốn trên 1.931 tỷ đồng, giảm 24,26%

[28] Trong đó 02 DN giải thể do thu hồi, toà án

[29] Trong đó có 218 HTX nông nghiệp, tăng 13 HTX so với năm 2019, vượt 2,3% kế hoạch; 52 HTX  CN-TTCN, điện, xây dựng, môi trường, thương mại dịch vụ; 24 HTX giao thông vận tải; 07 Quỹ tín dụng nhân dân (Quỹ TDND); 08 HTX thuộc lĩnh vực khác

[30] lãi bình quân một HTX năm 2020 đạt 135 triệu đồng; thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong HTX năm 2020 ước đạt 25 triệu đồng, tăng 4 triệu đồng/lao động so với năm 2019.

[31]đã được thống nhất chủ trương triển khai thực hiện tại Công văn số 5338/VPVP-CN ngày 18/6/2019 của Văn phòng Chính phủ, hồ sơ hiện nay đang trình Bộ Xây dựng thẩm định.

[32] Phú Bài 4 GĐ 2; Xây dựng Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và đô thị biển Vinh Xuân, Phú Vang; thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang; Điều chỉnh QHPK Khu B – ĐTM An Vân Dương; Quy hoạch chi tiết xây dựng sân golf Lộc Bình; …

[33] Như: Dự án La Sơn - Túy Loan cơ bản hoàn thành, đã thông xe; Dự án mở rộng hầm đường bộ Hải Vân, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2020; Dự án nâng cấp, mở rộng QL49B đoạn Thuận An-Tư Hiền-QL1 đã hoàn thành đoạn từ cầu Trường Hà đến cầu Bến Đò (Km73 - Km83), đoạn từ cầu Bến Đò đến cầu Tư Hiền (Km83 - Km92) đạt 75% khối lượng, vướng mắc GPMB đoạn cầu Tư Hiền; Dự án mở rộng cảng hàng không quốc tế Phú Bài đang san nền.

[34] Phủ thờ và lăng mộ Diên Khánh Vương –Di tích cấp quốc gia và Lễ hội Ada Koonh của người Pa Cô, huyện A Lưới - di tích cấp tỉnh.

[35] Toàn tỉnh hiện có 570 trường mầm non và phổ thông (Mầm non: 205  trường; Tiểu học: 195 trường; THCS: 132 trường; THPT: 38 trường ); có 09 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện và 01 trung tâm GDTX tỉnh, giảm 35 đơn vị (24 trường MN, PT và 11 Trung tâm) so với năm học 2015-2016.

[36] MN: 78,36%, TH: 80,75%, THCS: 92,28%, THPT: 96,93%

[37] Mầm non: 101 trường - tỷ lệ 48,79%; Tiểu học: 166 trường - tỷ lệ  85,13%; THCS: 89 trường - tỷ lệ 67,42% và THPT: 18 trường - tỷ lệ  47,37%

[38]Tỉ lệ toàn quốc là 43,4%.

[39] gồm: 3 giải Nhất, 13 giải Nhì, 18 giải Ba và 18 giải Khuyến khích. 01 học sinh đạt Huy chương Vàng kỳ thi quốc tế bộ môn Sinh học và 01 học sinh đạt giải nhất quốc gia và đạt Huy chương Đồng cuộc thi UPU thế giới năm 2020.

[40] cụ thể: có 100%  xã, phường, thị trấn đạt chuẩn XMC mức độ II; 100% xã, phường, thị trấn tiếp tục đạt chuẩn PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi; 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD tiểu học mức độ III; 100%  xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS mức độ II.

[41]Bậc học mầm non và phổ thông toàn tỉnh có 17.984 cán bộ quản lý và giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, trình độ trên đại học chiếm 10,78%; trình độ đại học 68,57%; trình độ cao đẳng 17,6%; trình độ trung cấp 3,06%.

[42] đảm bảo 3 nội dung: Lý thuyết,  thực địa và viết thu hoạch, trong đó chú trọng đặc trưng về con người, lịch sử, văn hóa, địa danh, sản phẩm…nổi bật của vùng đất Thừa Thiên Huế đưa vào chương trình giáo dục địa phương”

[43]Kỳ thi năm 2020, tỉnh Thừa Thiên Huế có 12.576 thí sinh dự thi..

[44] V ới quy mô là hoàn thiện khu quy hoạch và kinh phí khoảng 1.200 tỷ đồng (Theo Thông báo số 1026/TB-BGDĐT ngày 08/10/2020 về Kết luận của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ tại buổi làm việc Đại học Huế)

[45] theo Đề án phát triển Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế được Thủ tướng Chính phủ Chính phủ ban hành tại Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 14 /5/ 2018.

[46]TT tim mạch; TT kiểm soát bệnh tật tỉnh trên cơ sở sáp nhập 5 đơn vị; TT Điều trị theo yêu cầu  - Bệnh viện Quốc tế; Cơ sở 2 của BV Đa khoa TW Huế; TT Ung bướu, TT Nhi khoa, TT Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, TT huyết học truyền máu, TT Răng hàm mặt, TT Chấn thương chỉnh hình - Phẫu thuật tạo hình, TT Mắt, TT Ghép tạng.

[47]BV TW Huế đã thực hiện thành công ghép thận, ghép giác mạc, mổ tim hở; điều trị thành công ung thư buồng trứng bằng phương pháp cấy ghép tế bào gốc; kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và trữ lạnh phôi thủy tinh hóa; phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên trong điều trị ung thư đại trực tràng lần đầu tiên trên thế giới và Việt Nam.

[48] Có trên 60 giáo sư và phó giáo sư, 7 thầy thuốc nhân dân, 84 thầy thuốc ưu tú, 122 tiến sĩ, 126 bác sĩ chuyên khoa cấp II, 425 thạc sĩ, 321 bác sĩ chuyên khoa cấp I.

[49] Phần mềm tiêm chủng quốc gia; phần mềm giám sát và báo cáo bệnh truyền nhiễm; phần mềm quản lý thông tin người khuyết tật; phần mềm báo cáo công tác quản lý chất thải y tế...

[50] trong đó lượt ngoại trú 1.394.760, nội trú 196.490 giảm 14,3% so với cùng kỳ (229.263).

[51] Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng; Trung tâm Thông tin và ứng dụng tiến bộ KHCN.

[52] Nguồn nhân lực KH & CN chiếm khoảng 7,27% nguồn lao động của tỉnh.

[53] Kiểm tra đã phát hiện và tiêu hủy 15 mũ bảo hiểm không dán tem CR và không có nguồn gốc xuất xứ; xử phạt 03 cơ sở kinh doanh hàng hóa không ghi nhãn theo tính chất hàng hóa với số tiền phạt 3.300.000 đồng; phát hiện và nhắc nhở 01/23 cơ sở kinh doanh xăng dầu có mẫu xăng RON 95 có trị số octanne bất thường (97,1/95-95,6), 04/122 cột đo nhiên liệu (01 xăng RON 95, 03 dầu Diezel 0,25%S) có sai số thiếu +0,5% đồng thời lập biên bản và thu giữ giao cho Ban quản lý chợ tiêu hủy 10/40 cân đồng hồ lò xo có sai số từ 15-30%

[54]Trong đó, có 33 doanh nghiệp sản xuất, gia công, cung cấp dịch vụ phần mềm; 06 doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ nội dung thông tin số; 97 doanh nghiệp phần cứng và 34 doanh nghiệp về dịch vụ CNTT

[55]Người có công: gần 20.402 triệu đồng cho 13.625 người; Bảo trợ XH: 74.979 triệu đồng cho 50.007 người; thành viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo 52.974 triệu đồng cho 70.661 người

[56] Người lao động tạm hoãn thực hiện HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương: 293,4 triệu đồng cho 163 người; Hộ kinh doanh: 886 triệu đồng cho 886 hộ; Người lao động chấm dứt HĐLĐ, HĐLV không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: 33 triệu đồng cho 33 người; Người lao động không có giao kết hợp đồng lao động: 23.722 triệu đồng cho 22.722 người

[57] Hỗ trợ cho 12 cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập: 690 triệu đồng; Hỗ trợ mức 500.000 đồng/người/tháng cho 94 gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, người khuyết tật đặc biệt nặng tại cộng đồng tương ứng 211,5 triệu đồng; Hỗ trợ mức 250.000 đồng/người/tháng cho 145 khẩu tại 30 hộ gia đình nghèo, cận nghèo (phát sih sau ngày 31/12/2019) tương ứng 108,75 triệu đồng.

[58]đã giải quyết và trả kết quả đúng hạn trên 95% ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp xã và trên 90% ở cấp huyện; trên 80% số lượng văn bản hành chính được trao đổi dưới dạng điện tử, trên 80% TTHC được thực hiện dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, 4; áp dụng chữ ký số, chứng thư số trong các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, huyện.

[59]  14 đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh, 113 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở, 572 đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND cấp huyện, 09 đơn vị khối các Hội.

[60] trong đó: Số bệnh nhân đã điều trị khỏi và xuất viện: 08 trường hợp; số bệnh nhân đã chuyển viện: 03 trường hợp; tử vong: 12 trường hợp

[61] Theo nguồn từ Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế (tháng 6/2020).

[62] NLĐ tạm hoãn HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương; NLĐ chấm dứt HĐLĐ, HĐLV không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; hộ kinh doanh; NLĐ làm việc không giao kết HĐLĐ

 

thuathienhue.gov.vn
 Bản in]