Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018
  

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM

(Theo Báo cáo số 165/BC-UBND ngày 10/7/2018 của UBND tỉnh)

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2018

Năm 2018 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XV và kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 05/12/2017 của Tỉnh ủy; Nghị quyết số 42/2017/NQ-HĐND ngày 09/12/2017 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển KT-XH năm 2018; và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm 2018 theo Quyết định số 3039/QĐ-UBND ngày 27/12/2017. Tình hình KT-XH 6 tháng đầu năm ước đạt một số kết quả như sau:

1. Các chỉ tiêu chủ yếu:

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt:

TT

Chỉ tiêu chủ yếu

6tháng/2017

6tháng/ 2018

Chỉ tiêu NQ 2018

1

Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong tỉnh GRDP (%)

7,14

6,12

7,5-8,0

 

Tr.đó: - Nông Lâm Ngư nghiệp (%)

4,95

1,99

2,23

 

- Công nghiệp-Xây dựng (%)

11,57

6,39

8,5

 

- Dịch vụ (%)

5,87

6,93

8,6

 

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm (%)

1,86

6,58

3,98

2

Giá trị xuất khẩu (triệu USD)

395

440

920

3

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (tỷ đồng)

8.533

9.080

20.000

4

Thu ngân sách nhà nước (tỷ đồng)

3.308,5

3.435

6.830

5

Tạo việc làm mới (người)

8.500

9.435

16.000

2. Tình hình các ngành, lĩnh vực kinh tế

2.1. Đánh giá chung

Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP theo giá so sánh 2010) ước đạt 14.904 tỷ đồng, tăng 6,12% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 7,14% của 6 tháng đầu năm 2017, chưa đạt kế hoạch đề ra (7,5-8%). Đóng góp trong tăng trưởng kinh tế 6,12% nhờ vào một số ngành, lĩnh vực sản xuất chính như sau:

Dịch vụ tăng 6,93% về giá trị gia tăng nhờ vào du lịch khởi sắc trở lại với lượt khách tăng tốt so với những năm trước (tăng 16,54% về lượt khách lưu trú[1]). Đây là điểm sáng đáng ghi nhận trong tình hình cạnh tranh thị phần du lịch giữa các địa phương ngày một gay gắt; trong cả nước chuỗi hoạt động trải dài, rộng khắp và có phần trùng lặp thời điểm các kỳ nghỉ. Lượt khách tăng tốt đưa đến doanh thu cơ sở lưu trú ước đạt 827,2 tỷ đồng, tăng 12,86% đạt được mức tăng của dự kiến. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 18.736,5 tỷ đồng (xấp xỉ 50% kế hoạch năm), tăng 9,7%.

Công nghiệp – xây dựng tăng 6,39%. Trong sản xuất công nghiệp, các sản phẩm tăng tốt như: bia đóng chai 43,4 triệu lít, tăng 22,6%; bia đóng lon 55,5 triệu lít, tăng 18,44%; sợi các loại 37 nghìn tấn, tăng 11,09%; quần áo lót 167,3 triệu cái, tăng 10,69%; dăm gỗ 247,2 ngàn tấn, tăng 12,79%; men frit 77,8 nghìn tấn, tăng 24,83%; vỏ lon nhôm 4 nghìn tấn, tăng 9,15%; điện thương phẩm 793,2 triệu kwh, tăng 12,19%; tôm đông lạnh 2,3 nghìn tấn, tăng 25,69% xi măng 1.258 nghìn tấn, tăng 1,61%...

Khu vực nông, lâm, thủy sản duy trì mức tăng ổn định gần 2% nhờ hoạt động đánh bắt hải sản phục hồi sau sự cố môi trường biển, giá trị tăng thêm ngành thủy sản đạt khá cao so cùng kỳ (tăng 7,34%).

Mặc dù các khu vực kinh tế có sự phát triển nhưng mức tăng chưa đạt kỳ vọng và chưa đạt như mức tăng của 6 tháng đầu năm 2017. Trong đó, ngành sản xuất, phân phối điện tăng trưởng âm (giảm 29,54%), so với mức tăng ngành này trong 6 tháng đầu năm 2017 tăng 98,5% (về sản phẩm, điện sản xuất đạt 410,7 triệu kwh, giảm 40,69%)[2]. Nguyên nhân chính do nhà máy Thủy điện A Lưới  ngừng sản xuất để bảo trì máy móc từ đầu năm nay đến hết tháng 4; ngoài ra, tháng 5, tháng 6 thời tiết hạn hán diện rộng nên các hồ thủy điện thiếu nước sản xuất. Tăng trưởng ngành nông nghiệp không cao (tăng 0,24%) do tình trạng giá thịt lợn hơi vẫn còn ở mức thấp và không ổn định.

2.2. Về tài chính ngân sách

a) Về thu ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách 6 tháng đạt 3.435 tỷ đồng, bằng 50,3% dự toán và tăng 1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó:

- Thu nội địa đạt 2.990 tỷ đồng, bằng 49,3% dự toán, tăng 2,8% so với cùng kỳ, trong đó: Thu từ doanh nghiệp nhà nước Trung ương đạt 100 tỷ đồng, bằng 36,4% dự toán; Thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 126 tỷ đồng, bằng 50,4% dự toán; Thu từ khu vực đầu tư nước ngoài chỉ đạt 876 tỷ đồng, bằng 43,6% dự toán, tăng 7,1% so với cùng kỳ; Thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt 511 tỷ đồng, bằng 43,3% dự toán, bằng 99% so với cùng kỳ; Thu tiền sử dụng đất đạt 529 tỷ đồng, bằng 77,8% dự toán, tăng 15% so với cùng kỳ.

- Thu ngân sách các huyện đạt 1.054 tỷ đồng, bằng 55,4% dự toán.

- Thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đạt 250 tỷ đồng, bằng 59,5% dự toán và tăng 40,1% so với cùng kỳ.

- Thu để lại chi quản lý qua ngân sách địa phương đạt 195 tỷ đồng, bằng 55,7% dự toán, riêng thu phí tham quan di tích đạt 191 tỷ đồng, bằng 59,7% dự toán...

b) Về chi ngân sách địa phương

Tổng chi ngân sách địa phương 6 tháng ước đạt gần 4.018 tỷ đồng, bằng 40,3% dự toán. Kết quả một số nhiệm vụ chi chủ yếu như sau:

- Tổng chi thanh toán vốn đầu tư từ các nguồn 6 tháng chỉ đạt 952 tỷ đồng, bằng 32% dự toán. Nguyên nhân là do khó khăn trong công tác thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng đã ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công và giải ngân của các dự án; một số dự án đã có khối lượng giải ngân nhưng chậm thực hiện các thủ tục về hồ sơ nghiệm thu, thanh toán; Một số dự án sử dụng nguồn vốn ODA nên quy trình thủ tục phải thực hiện theo nhà tài trợ vốn nên cũng đã ảnh hưởng đến công tác giải ngân. Cụ thể như sau: Chi đầu tư XDCB tập trung đạt 251 tỷ đồng, bằng 51,2% dự toán; Chi từ nguồn thu tiền sử dụng đất đạt 268,2 tỷ đồng, bằng 44,3% dự toán; Chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu của Trung ương còn đạt rất thấp, chỉ khoảng 23,4% dự toán chủ yếu do dự án đê chắn sóng cảng Chân Mây và các dự án từ nguồn vốn vay ODA giải ngân thấp.

- Chi thường xuyên đạt 2.774 tỷ đồng, gần bằng 45,3% dự toán, trong đó: chi sự nghiệp an ninh quốc phòng đạt 53,3% dự toán, chi sự nghiệp giáo dục-đào tạo và dạy nghề đạt 42,6% dự toán, chi sự nghiệp đảm bảo xã hội đạt 57,8% dự toán.

- Chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt gần 106,2 tỷ đồng, bằng 55,1% dự toán, trong đó chương trình giảm nghèo bền vững đạt 34 tỷ đồng, bằng 49,3% dự toán; chi chương trình xây dựng nông thôn mới giải ngân đạt 72,2 tỷ đồng, bằng 85,6% dự toán.

- Tình hình sử dụng dự phòng ngân sách tỉnh: Dự toán dự phòng ngân sách tỉnh năm 2018 là 100,8 tỷ đồng. Đến nay, đã bổ sung ngoài dự toán gần 47 tỷ đồng để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, phát sinh ngoài dự toán như: bảo đảm an ninh và chính sách cho các đối tượng bảo trợ xã hội nhân dịp Tết nguyên đán 18 tỷ đồng; chi thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh theo quy định của Chính phủ 9 tỷ đồng; kinh phí diễn tập phòng thủ năm 2017 là 4 tỷ đồng; chi cho các hoạt sửa chữa, kiến thiết thị chính, xúc tiến đầu tư, bồi thường, hỗ trợ di dời nhà sở hữu nhà nước, xử lý, lấp đất tại bãi rác Lộc Thủy 4,5 tỷ đồng; chi hoạt động Festival gần 3,5 tỷ đồng; chi cho các hoạt động đối ngoại, biên chế mới tuyển, quản lý nhà nước 2 tỷ đồng và thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách khác....

2.3. Phát triển dịch vụ

a) Về du lịch

Tập trung thực hiện Chương trình trọng điểm về du lịch - dịch vụ. Đã hình thành nhiều sản phẩm du lịch mới xung quanh khu vực kinh thành: Duy trì mở cửa Đại Nội về đêm, chiếu sáng Kỳ Đài, bắn súng thần công, chiếu phim 4D bằng công nghệ thực tế ảo với chủ đề “Đi tìm Hoàng Cung đã mất”, trình diễn “Văn hiến kinh kỳ”... nhờ đó đã thu hút rất nhiều khách tham quan di tích[3].

Tiếp tục đa dạng hóa các hoạt động trình diễn tại phố đêm đường Phạm Ngũ Lão, Chu Văn An, Võ Thị Sáu; sắp xếp chuỗi thiết chế văn hóa nghệ thuật tuyến đường Lê Lợi (đoạn từ cầu Trường Tiền đến cầu Phú Xuân); từng bước hình thành tuyến phố đi bộ dọc sông Hương (đường Nguyễn Đình Chiểu) gắn với không gian bảo tàng dọc đường Lê Lợi. Tổ chức thành công Festival Huế 2018, khẳng định thương hiệu “Thành phố Festival”.

Tổng lượt khách đến Thừa Thiên Huế ước đạt 2.380 nghìn lượt khách, tăng 36% so với cùng kỳ. Tổng lượt khách lưu trú ước đạt 1.109,4 nghìn lượt, tăng 16,54%. Về thị trường khách quốc tế, Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu với 149,58 nghìn lượt khách, chiếm 33,6%, một số thị trường truyền thống vẫn có mức tăng trưởng ổn định như Pháp (11,1%), Mỹ (6,2%), Đức (5,9%), Anh (5,6%),...

b) Hoạt động thương mại, quản lý thị trường: Đã khai trương Trung tâm thương mại Vincom Plaza Huế, góp phần đáp ứng nhu cầu mua sắm đa dạng của du khách và người dân địa phương. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 6 tăng 1,55% so tháng 12 năm trước, tăng 4% số cùng kỳ năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm 2018 chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,78% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

c) Hoạt động xuất nhập khẩu: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 440 triệu USD, tăng 11,39%[4]. Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu: công nghiệp chế biến 385 triệu USD, tăng 7,23%, chiếm 87,5%; nông, lâm, thuỷ sản 29,0 triệu USD, tăng 20,99%, chiếm 6,59%. Đã phát triển thêm nhiều đối tác mới tại các thị trường như Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, Nga,… góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 275 triệu USD, tăng 7,08%, đạt 48,67% kế hoạch[5]. Nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị phụ tùng; hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,…

d) Hoạt động tín dụng ngân hàng: Dự ước đến cuối tháng 6/2018, tổng nguồn vốn huy động đạt 41.500 tỷ đồng, tăng 7,1% so với đầu năm. Tổng dư nợ cho vay ước đạt 41.800 tỷ đồng, tăng 5,3%. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng 37,4% tổng dư nợ, tăng 4,8%. Nợ xấu tính đến hết tháng 4/2018 ở mức 462,8 tỷ đồng, chiếm 1,22% tổng dư nợ.

đ) Hoạt động vận tải: Vận tải hành khách ước đạt 11.043,8 nghìn lượt khách, tăng 7,24%; vận tải hàng hóa ước đạt 5.291,5 nghìn tấn, tăng 10,07%; doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.230,3 tỷ đồng, tăng 11,16%.

e) Hoạt động lĩnh vực bưu chính - viễn thông: Ổn định các dịch vụ truyền thống, các dịch vụ giá trị gia tăng được nâng cao chất lượng, mở rộng về số lượng. Tổng doanh thu ước đạt 875,7 tỷ đồng...

2.4. Về công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng khoảng 6,85% so cùng kỳ năm trước[6]. Các sản phẩm chủ lực đều đạt mức tăng trưởng cao và ổn định. Sản xuất và tiêu thụ bia đã vượt qua giai đoạn khó khăn, thị trường tiêu thụ ổn định và tăng trưởng trở lại. Dệt may đưa vào hoạt động nhà máy may Sơn Hà công suất 15 triệu sp/năm, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Thị trường tiêu thụ xi măng được mở rộng và tiêu thụ tốt tại các tỉnh Nam Trung Bộ. Chế biến thủy hải sản đạt tốc độ tăng mạnh nhờ chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, thị trường xuất khẩu (chủ yếu là Nhật Bản và Hàn Quốc) đã thuận lợi hơn. Nhà máy Thủy điện A Lưới ngừng sản xuất để bảo trì máy móc trong những tháng đầu năm 2018 đã làm ảnh hưởng đến tăng trưởng lĩnh vực công nghiệp.

Nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn đã hoàn thành, đang trong quá trình chạy thử, dự kiến đưa vào hoạt động trong 6 tháng cuối năm, góp phần tạo năng lực tăng thêm[7].

Tiếp tục thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp. Đến nay, tỷ lệ lấp đầy các KCN như sau: KCN Phú Bài bình quân các giai đoạn đạt 30% (giai đoạn I và II đạt 98,5%, giai đoạn IV – đợt 1 đạt 8,9%); KCN Phong Điền bình quân đạt 17,23% (khu A 33%, khu B và khu B mở rộng đạt 74%); KCN La Sơn đạt 20,9%; KCN Tứ Hạ đạt 1,2%; KCN Phú Đa đạt 21,7%.

Hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn khu kinh tế và khu công nghiệp ngày càng đóng góp quan trọng cho cả tỉnh, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 8.700 tỷ đồng, chiếm 60% GTSXCN của tỉnh; nộp ngân sách 1.070 tỷ đồng, tăng 6%; giá trị xuất khẩu 326 triệu USD, chiếm hơn 70% tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh.

2.5. Về nông lâm, ngư nghiệp

a) Trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2018 đạt 45.068 ha, giảm 2,4% so vụ Đông Xuân năm trước. Trong đó, diện tích lúa đạt 28.574 ha, tăng 5ha so với cùng kỳ năm trước; năng suất lúa ước đạt 61,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha với sản lượng ước đạt 176.678 tấn, giảm 0,9%.

Các địa phương đã chú trọng hơn trong việc đưa các giống lúa mới ngắn ngày, có chất lượng vào sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất. Tỷ lệ gieo cấy giống lúa xác nhận đạt 95%, tương đương vụ Đông Xuân năm trước. Lúa chất lượng cao được các địa phương chú trọng mở rộng diện tích đạt 9.008 ha, tăng 6,3%, chiếm 31,5% diện tích. Tiếp tục thực hiện sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn, liên kết sản xuất; ng dụng tiến bộ kỹ thuật tăng năng suất, hiệu quả sản xuất lúa trên đất nhiễm chua phèn ven phá, mô hình 3 giảm, 3 tăng trên cây lúa…

Diện tích gieo trồng một số loại cây hàng năm chủ yếu khác của vụ Đông Xuân năm nay, ngoài rau các loại 3.121ha, tăng 10,3%, còn lại hầu hết giảm so với năm trước[8]. Nguyên nhân chủ yếu do một số cây hoa màu, sắn tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, giá giảm, hiệu quả kinh tế thấp nên người dân chuyển sang trồng rau các loại. Năng suất, sản lượng tăng không đáng kể so với cùng kỳ năm trước[9].

Diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu theo kế hoạch khoảng 26.000 ha.

b) Cây lâu năm

Ước tính tổng diện tích hiện có đạt 12.722,2 ha, giảm 1,5% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là một số cây như cà phê, dứa và một số cây ăn quả khác bị người dân chặt bỏ do hiệu quả kinh tế thấp, không phù hợp khí hậu thổ nhưỡng của địa phương. Diện tích một số cây lâu năm: cao su đạt  8.893,4 ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; hồ tiêu 277 ha, tăng 0,4%; cây ăn quả 3.190,8 ha, giảm 3,7%, trong đó cây bưởi thanh trà 1.091 ha, tăng 2,7%.

c) Chăn nuôi

Đàn bò tăng 1,32% do việc nuôi bò đạt hiệu quả kinh tế khá cao và được nhiều dự án hỗ trợ; đàn gà tăng 4,06% do giá thịt gà hơi tăng và dịch bệnh không xảy ra nên người nông dân mở rộng quy mô nuôi; đàn lợn giảm 11,75% do giá thịt lợn hơi tuy có tăng trở lại nhưng biến động thất thường nên người chăn nuôi chưa mạnh dạn đầu tư tái đàn[10].

d) Lâm nghiệp

Khối lượng khai thác gỗ rừng trồng ước đạt 300.174 m3, tăng 5,8%; trồng rừng tập trung 2.815 ha, tăng 11%. Đã xảy ra 163 vụ vi phạm lâm luật, giảm 7 vụ so cùng kỳ; xử lý 163 vụ, tịch thu 315 m3 gỗ tròn. Xảy ra 2 vụ cháy rừng trồng, gây thiệt hại với diện tích 1,07 ha, tăng 0,6 ha so với cùng kỳ. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2017 đạt 57,32%, tăng 1,02% so với năm 2016[11].

đ)Thuỷ sản

Diện tích nuôi trồng ước đạt 6.980 ha, tăng 2,8%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 5.922 tấn, tăng 7,8%. Sản lượng khai ước đạt 19.987 tấn, tăng 5,4%, trong đó khai thác biển 18.057 tấn, tăng 6,1%, khai thác nội địa 1.930 tấn, giảm 0,5%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác ước đạt 25.909 tấn, tăng 5,94%. 

Triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới: Đã chỉ đạo các xã triển khai thực hiện tốt các tiêu chí đã đăng ký hoàn thành trong năm 2018; hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để công nhận thêm 08 xã đạt tiêu chuẩn xã nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn lên 31 xã/104 xã, đạt 29,8%.

2.6. Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, xúc tiến đầu tư

Tiếp tục thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, đến ngày 30/6/2018 có 369 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký 3.115,45 tỷ đồng, tăng 5,7% về lượng và bằng 80,9% về vốn so với cùng kỳ; có 129 doanh nghiệp trở lại hoạt động, tăng 12 doanh nghiệp; nhưng có 100 doanh nghiệp giải thể, giảm 16 doanh nghiệp; 197 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 04 doanh nghiệp.

Đã thu hút 16 dự án trong nước với tổng mức đầu tư 3.131 tỷ đồng; điều chỉnh tăng vốn dự án Laguna lên 02 tỷ USD

Đã phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc tổ chức Diễn đàn Xúc tiến đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế tại Hàn Quốc, đánh dấu sự khởi đầu mới cho việc thu hút đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc vào tỉnh, theo đó đã trao giấy Chứng nhận cho phép nghiên cứu dự án đầu tư cho 03 doanh nghiệp Hàn Quốc[12].

Công tác rà soát, giám sát tiến độ các dự án ngoài ngân sách theo Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh đang tiếp tục thực hiện. Đã ban hành quyết định chấm dứt hoạt động của 12 dự án (9/24 dự án cần rà soát xem xét thu hồi và 3/29 dự án cần giám sát đặc biệt).

Đã ban hành Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 12/02/2018 để tiến hành tổ chức triển khai một số nhiệm vụ theo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với tỉnh Thừa Thiên Huế tại Thông báo số 26/TB-VPCP ngày 17/01/2018 của Văn phòng Chính phủ. Các sở, ban, ngành đang tích cực triển khai các nhiệm vụ được phân công.

Phát triển Kinh tế tập thể: 6 tháng đầu năm đã thành lập mới 12 Hợp tác xã (HTX), nâng tổng số HTX lên 251; có 193 HTX đã đăng ký, chuyển đổi theo Luật HTX năm 2012, đạt tỷ lệ 86,16%.

2.7. Quản lý quy hoạch, đô thị, quản lý đầu tư xây dựng và tài nguyên môi trường

a) Về quy hoạch, đô thị

Đã tổ chức thẩm định, phê duyệt nhiều đồ án quy hoạch, nhiệm vụ quy hoạch[13]; phê duyệt mẫu nhà ở tại các khu đô thị (Khu E- Đô thị mới An Vân Dương; Khu Đô thị mới Mỹ Thượng, xã Phú Thượng và xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang…); Tiếp tục hoàn thiện Quy hoạch chi tiết hai bên bờ sông Hương, Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Lăng Cô - Cảnh Dương; phối hợp Bộ Xây dựng nghiên cứu lập Chương trình phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

Tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu đô thị đến nay đạt 36%; tỷ lệ đô thị hóa đạt 54%.

b) Về đầu tư xây dựng

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 9.080 tỷ đồng, bằng 45,4% KH năm, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Phân theo cấp quản lý: Vốn Trung ương quản lý 2.663 tỷ đồng, chiếm 29,3% tổng vốn đầu tư, tăng 8,3% so với cùng kỳ, bằng 46,5% KH; vốn địa phương quản lý 6.417 tỷ đồng, chiếm 70,7%, tăng 5,4%, bằng 45% KH.

Phân theo nguồn vốn: Vốn ngân sách Nhà nước đạt 1.587 tỷ đồng, bằng 45,9% KH, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 17,5% tổng vốn[14]. Nguồn vốn tín dụng đạt 4.026 tỷ đồng, bằng 45,5% KH, tăng 9,7% so cùng kỳ, chiếm 44,3% tổng vốn. Vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.410 tỷ đồng, bằng 47,8% KH, tăng 11,9%, chiếm 15,5%. Vốn viện trợ 668 tỷ đồng, bằng 40,8% KH, giảm 19,2%, chiếm 7,4%. Vốn đầu tư nước ngoài 398 tỷ đồng, bằng 44,2% KH, tăng 4,7%, chiếm 4,4%.

Nguồn vốn ngân sách thực hiện tăng khá so cùng kỳ, tập trung chủ yếu vào các dự án chuyển tiếp[15]. Các dự án trọng điểm quốc gia tiếp tục thi công nhanh: Đường La Sơn-Túy Loan; Hầm đường bộ Hải Vân giai đoạn II. Về tình hình giải ngân, nguồn vốn ngân sách tỉnh quản lý đến nay đã thông báo tại Kho bạc Nhà nước tỉnh là 2.128,5 tỷ đồng; giải ngân đến ngày 31/5/2018 là 560,9 tỷ đồng, đạt 26,4% kế hoạch. Mức giải ngân này thấp hơn so với 5 tháng đầu năm 2017 (đạt 38%) do năm 2018 có nhiều dự án lớn vốn NSTW khởi công mới, hiện đang trong giai đoạn lập, trình duyệt thiết kế dự toán và tổ chức lựa chọn nhà thầu, GPMB nên chưa đủ điều kiện giải ngân.

Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng so cùng kỳ do nhiều dự án được đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành như Tổ hợp Trung tâm Thương mại Vincom Hùng Vương và Khách sạn 5 sao Vinpearl Huế; Nhà máy may Sơn Hà; Dây chuyền thứ 2 của nhà máy sợi Phú Hiệp; Nhà máy sản xuất gạch ốp lát granite của Công ty TNHH Vitto Phú Lộc;… Ngoài ra một số dự án giãn tiến độ trong thời gian dài đến nay đầu tư thi công trở lại: Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Huế; Dự án Goldland Plaza; Trung tâm tiệc cưới Sen Trắng… Một số dự án tiếp tục đầu tư như nhà máy thủy điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3; Dự án Manor Crown của Công ty cổ phần Bất động sản Minh Điền Vital; Bến số 3 Cảng Chân Mây,…

Nguồn viện trợ với trọng điểm là dự án cải thiện môi trường nước đang được gấp rút thi công trên địa bàn thành phố Huế, tiến độ xây dựng nhà máy xử lý nước thải diễn ra khá tốt, tuy nhiên để đạt tiến độ chung, cần phải có nhiều nỗ lực hơn nữa.

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tập trung đầu tư tại các dự án như Dự án Laguna giai đoạn 2; Khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn và một số công đoạn cuối của Nhà máy chế biến gỗ Công ty Lee & Park Wood và Nhà máy may của Công ty Hanex.

c) Về tài nguyên môi trường

Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp tỉnh; 100% đơn vị cấp huyện được phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2018. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lũy kế đến nay đã cấp 613.826 Giấy với diện tích 124.298,75 ha đạt tỷ lệ 97,19% và cấp đổi là 4.844 Giấy.

Đã xây dựng kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh năm 2018 – 2019. Khoanh định khu vực cấm, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản trên đại bàn tỉnh

Đã ban hành Kế hoạch số 110/KH-UBND ngày 04/6/2018 Thực hiện việc mở cuộc vận động toàn dân xây dựng Thừa Thiên Huế sáng – xanh – sạch, không rác thải. Đang đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh[16]. Tăng cường thanh kiểm tra về môi trường[17]. Đã phân bổ 190,282 tỷ đồng (trong đó từ nguồn kinh phí ngân sách dự phòng Trung ương 145 tỷ đồng) khắc phục thiệt hại do thiên tai gây ra năm 2017, chỉ đạo các đơn vị và địa phương đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành việc khắc phục hậu quả thiên tai, nhất là các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu để ổn định đời sống, sản xuất của nhân dân.

3. Văn hóa xã hội

3.1. Văn hóa - thể thao

Tổ chức thành công Festival lần thứ 10 - năm 2018 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển – Huế 1 điểm đến 5 di sản”. Bên cạnh đó, đã có nhiều hoạt động tổ chức chào mừng kỷ niệm 128 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao toàn tỉnh lần thứ VIII – 2018; đã phát động cuộc thi sáng tác Mỹ thuật “Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sáng tác của các Nghệ sĩ tạo hình Huế”; Khai mạc Triển lãm tranh cổ động,..

3.2. Giáo dục đào tạo

Trong năm học 2017-2018, toàn tỉnh có 594 trường mầm non và phổ thông. Công tác phổ cập giáo dục (PCGD) các cấp, ngành học đã đạt được những kết quả quan trọng[18]. Dự kiến đến cuối năm 2018 toàn tỉnh đạt chuẩn PCGD THCS mức độ II; 59,61% thanh niên trong độ tuổi 18 -24 có bằng tốt nghiệp THPT và tương đương; 18 xã đạt chuẩn “Có 80% thanh niên trong độ tuổi có bằng tốt nghiệp THPT và tương đương”.

Đến nay, toàn tỉnh có 322/594 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 54,21%, tăng 29 trường so với đầu kỳ kế hoạch (trong đó: mầm non: 74 trường, tăng 9 trường; tiểu học: 159 trường, tăng 8 trường, THCS: 74 trường, tăng 11 trường và THPT: 15 trường, tăng 01 trường).

Chất lượng giáo dục phổ thông đại trà và giáo dục mũi nhọn tiếp tục giữ vững[19].

Đào tạo đại học: Tập trung thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về xây dựng và phát triển Đại học Huế, trọng tâm là kiện toàn tổ chức và hoạt động của khối đại học. Ban hành, điều chỉnh các quy chế quản lý của ngành[20]. Thực hiện tốt công tác tổ chức cán bộ. Triển khai công tác quy hoạch chuyên môn giai đoạn 2017 – 2020 và 2021 – 2025; bổ nhiệm các chức danh quản lý của các đơn vị trực thuộc[21]; điều chỉnh kế hoạch chiến lược phát triển các trường đại học thành viên.

Tiến hành đổi mới cơ chế quản lý tài chính; phê duyệt Đề án tự chủ đối với Viện Tài nguyên và Môi trường, lộ trình tự chủ đại học đối với các trường đại học thành viên: Kinh tế, Y Dược, Luật. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất. Nghiên cứu địa điểm quy hoạch làng giáo sư; điều chỉnh quy hoạch Khu đô thị Trường Bia và thay đổi công năng một số cơ sở của Đại học Huế. Đôn đốc các dự án đang triển khai[22]. Hoàn thành dự án tăng cường năng lực Khoa Kiến trúc – Trường Đại học Khoa học; triển khai giai đoạn 2.

Về công tác đào tạo, đã phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng, cao học, nghiên cứu sinh năm 2018; dừng tuyển sinh các ngành đào tạo khó tuyển, mở các ngành đào tạo mới mà xã hội có nhu cầu. Tổ chức tư vấn, quảng bá tuyển sinh tại các địa bàn trọng điểm[23]; tư vấn trực tuyến tuyển sinh trên Cổng thông tin tuyển sinh Đại học Huế năm 2018. Tiếp tục thực hiện hợp tác quốc tế trong đào tạo và quản trị đại học. Quan tâm công tác học sinh, sinh viên; chú trọng tập huấn khởi nghiệp, sáng tạo cho sinh viên[24].

Đào tạo nghề: Đến nay, đã tuyển sinh 9.040 lao động tham gia các lớp học nghề (trong đó, 186 sinh viên cao đẳng, 420 học sinh trung cấp; sơ cấp và dưới 3 tháng có 8.434 học viên), đạt trên 60% kế hoạch.

3.3. Y tế và chăm sóc sức khỏe

Công tác chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, giám sát dịch bệnh và tuyên truyền cách phòng chống dịch bệnh được tích cực triển khai và không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn.

Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh được triển khai thường xuyên và chưa có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra.

Đã thành lập Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở hợp nhất các Trung tâm[25]: Y tế Dự phòng; Phòng, chống HIV/AIDS; Chăm sóc sức khỏe sinh sản; Phòng chống sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng; Truyền thông giáo dục sức khỏe thành một đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế.

Công suất sử dụng giường bệnh kế hoạch toàn tỉnh đạt 98,89%; công suất sử dụng giường bệnh thực kê 63,55%. Mạng lưới y tế cơ sở cơ bản được hoàn chỉnh, đến nay, 143/152 trạm y tế đạt chuẩn (đạt 94,1%). Hầu hết các dự án thuộc các Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số đang triển khai theo các tiêu chí, mục tiêu được đề ra tại kế hoạch năm.

3.4. Khoa học công nghệ

Tiếp tục triển khai Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh, thực hiện các đề tài khoa học công nghệ được duyệt. Tổ chức các cuộc thi/cuộc vận động khơi dậy ý tưởng khởi nghiệp tiềm năng (từ các Vườn ươm khởi nghiệp, Câu lạc bộ khởi nghiệp).

Hoạt động sở hữu trí tuệ được triển khai đúng kế hoạch, đã ban hành kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ chỉ dẫn địa lý. Trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã có 50 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và có 65 văn bằng bảo hộ được cấp.

Đã tổ chức các hội nghị, hội thảo như Hội thảo liên quan sở hữu trí tuệ và  khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đề án phát triển Viện công nghệ sinh học, Đại học Huế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Hoạt động quản lý Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng được đẩy mạnh, đảm bảo được lợi ích, quyền lợi của người tiêu dùng và an toàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Hệ thống quản lý chất lượng vào cơ quan hành chính nhà nước theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 được áp dụng tại các sở, ban, ngành và cấp huyện đã mang lại nhiều hiệu quả cao trong công tác cải cách hành chính.

3.5. Lao động việc làm, an sinh xã hội

a) Giải quyết việc làm

Ước 6 tháng, giải quyết việc làm mới cho hơn 9.435 lao động, đạt 58,96% kế hoạch, tăng 11%; đã đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, từ đầu năm đến nay đã đưa được 420 lao động đi làm việc nước ngoài (tăng hơn 200 lao động so với cùng kỳ) tại các thị trường chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Triển khai chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp, tạo việc làm và xuất khẩu lao động đối với người thuộc hộ bị thiệt hại do sự cố môi trường biển. Đã giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp cho 1.857/2.163 người đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp với tổng số tiền 21 tỷ đồng.

b) Giảm nghèo bền vững

 Đã triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018, trong đó đã có dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo. Tiếp tục tổ chức triển khai các hoạt động trợ giúp xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 25%.

c) Chăm lo chính sách xã hội, người có công

 Thực hiện kịp thời các chế độ, chính sách xã hội đối với người có công, hộ nghèo, đối tượng hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Chi trả trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng cho 55.926 đối tượng, hộ gia đình và cá nhân hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng với kinh phí trên 20 tỷ đồng; cấp 417 thẻ BHYT cho các đối tượng được nuôi dưỡng có thời hạn ở 15 cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập.

Đã tiếp nhận, giải quyết 2.780 hồ sơ[26]. Tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH cho 108 mẹ đưa tổng số trên địa bàn tỉnh đến nay là 2.326 mẹ (có 89 Mẹ còn sống đang hưởng trợ cấp hàng tháng); tổ chức cải táng 11 mộ liệt sĩ hy sinh trên đất nước bạn Lào về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Huế.

d) Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới

Đã tặng quà và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực khác cho trẻ em đặc biệt khó khăn đang được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội và trẻ em con hộ nghèo tại các địa phương; tổ chức lễ phát động Tháng hành động vì trẻ em với những hoạt động từ thiện thiết thực. Công tác tuyên truyền bảo vệ, chăm sóc trẻ em tiếp tục tăng cường; tuy nhiên, công tác phòng chống đuối nước vẫn còn hạn chế, từ đầu năm đến nay, đã có 5 trường hợp đuối nước. Công tác Bình đẳng giới vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh được kiện toàn về tổ chức, xây dựng và triển khai kế hoạch năm 2018.

4. Công tác nội vụ, cải cách hành chính, đối ngoại, quốc phòng an ninh

4.1. Công tác nội vụ, cải cách hành chính

a) Công tác tổ chức bộ máy nhà nước

Xây dựng và ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động Thực hiện Kế hoạch số 60-KH/TU ngày 13/3/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; ban hành Kế hoạch thực hiện Kế hoạch số 69-KH/TU ngày 24/4/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đã thành lập Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở Y tế. Đã thành lập Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư. Đổi tên Viện Quy hoạch xây dựng tỉnh thành Viện Nghiên cứu phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đồng thời thành lập Viện Quy hoạch xây dựng trực thuộc Sở Xây dựng; đang hoàn thiện Đề án đổi mới mô hình quản lý Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế. Đã tổ chức thí điểm thi tuyển chức danh Phó Giám đốc Sở Công Thương.

b) Công tác cải cách hành chính

Đã khai trương và đưa hoạt động ổn định Trung tâm Hành chính công tỉnh; tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động các Trung tâm hành chính công cấp huyện; triển khai Đề án bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại cấp xã và tổ chức khai trương tại đơn vị làm điểm xã Lộc Bổn; đã công bố quyết định đánh giá, xếp loại công tác cải cách hành chính của các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND cấp huyện năm 2017 với mức điểm bình quân cao hơn năm 2016. Trong đó điểm bình quân khối sở ban ngành (21 đơn vị) đạt 83,4% điểm (năm 2016 là 68,7%); điểm bình quân khối UBND cấp huyện (9 đơn vị) đạt 85,1% điểm (năm 2016 là 83,98%). Công tác ứng dụng công nghệ thông tin tiếp tục được tăng cường; xây dựng hoàn thiện đề án phát triển dịch vụ đô thị thông minh. Ngoài ra, đã tổ chức Hội thi chung tay cải cách hành chính trong cán bộ, công chức, viên chức năm 2018 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được công bố, tỉnh Thừa Thiên Huế xếp vị trí  29/63 tỉnh, thành giảm 6 bậc so với năm 2016; nhưng xét trên tổng điểm đạt 62,37 điểm, tăng 2,69 điểm với hầu hết các chỉ số thành phần đã cải thiện đáng kể trong đó mức tăng cao nhất là Tính năng động của chính quyền địa phương trong giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp tăng 1,93 điểm) góp phần ghi nhận sự nỗ lực của chính quyền địa phương. Chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh (PAPI) xếp thứ 37, tăng 5 bậc so với năm 2016. Chỉ số cải cách hành chính PAR Index xếp thứ 23, giảm 13 bậc. Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử xếp thứ nhất cấp tỉnh năm 2017.

4.2. Công tác đối ngoại

Đã đón tiếp và làm việc với 551 đoàn khách quốc tế/3.539 lượt người đến thăm, làm việc, tìm hiểu cơ hội hợp tác, xúc tiến đầu tư - thương mại, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế. Đã ghi nhớ hợp tác với 02 đối tác nước ngoài[27], đã kết nối UBND thành phố Huế và Chính quyền thành phố Cergy (Cộng hoà Pháp), dự thảo bản Ghi nhớ Hợp tác giữa Chính quyền Grand Poitiers (Cộng hoà Pháp) và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã kêu gọi, vận động được 08 khoản viện trợ PCPNN quy mô nhỏ với tổng tiền 34.149 USD; tiếp tục quản lý 01 dự án chuyển tiếp giai đoạn 2017-2019 với cam kết viện trợ 1,2 triệu USD[28]; tiếp tục kêu gọi các tổ chức PCPNN tài trợ cho 32 dự án và khoản viện trợ quy mô nhỏ tập trung vào lĩnh vực hỗ trợ phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo với tổng giá trị viện trợ ước tính 579.334 USD.

4.3. An toàn giao thông

Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 199 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 69 người, tăng 11 người; bị thương 173 người, giảm 28 người. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 196 vụ, bằng so với cùng kỳ; làm chết 66 người, tăng 14 người; bị thương 173 người, giảm 25 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 3 vụ, giảm 2 vụ; làm chết 3 người, giảm 3 người; không có người bị thương, giảm 3 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.

4.4. Quốc phòng – an ninh, trật tự xã hội và phòng chống cháy nổ

a) Quốc phòng - an ninh, trật tự xã hội

Đã tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ an toàn tuyệt đối trong các dịp, lễ hội, kỷ niệm và các chuyến thăm và làm việc của các đoàn công tác cấp cao. Tình hình ANCT-TTATXH ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững.

Thực hiện tốt công tác tuyển quân năm 2018 (đạt 100% chỉ tiêu) và công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên. Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Nghị quyết, mệnh lệnh, chỉ thị của Tư lệnh Quân khu, của Tỉnh ủy; quán triệt và triển khai thực hiện tốt Chỉ thị, kế hoạch tập huấn năm 2018 của Bộ CHQS tỉnh.

 Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của BCH Trung ương khóa XI về “Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”, Chỉ thị 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới”, Nghị định 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ về khu vực phòng thủ...Các lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh, tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ QP-AN; việc xây dựng lực lượng chính quy được nâng cao và đạt hiệu quả tích cực, qua đó đã nâng cao chất lượng tổng hợp, tác chiến và sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

Đã chỉ đạo ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động truyền đạo trái phép của “Hội thánh đức chúa trời mẹ” trên địa bàn tỉnh.

b) Về tình hình phòng chống cháy nổ

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ cháy, giảm 8 vụ so cùng kỳ năm trước; làm bị thương 2 người; không có trường hợp tử vong; giá trị thiệt hại 162,8 triệu đồng. Nguyên nhân gây cháy chủ yếu do người dân sử dụng điện không đảm bảo an toàn để xảy ra chập điện gây cháy.

5. Những hạn chế, yếu kém

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội vẫn còn những hạn chế, yếu kém:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp (đạt 6,12%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 6 tháng đầu năm 2017). Quy mô nền kinh tế còn quá nhỏ. Chỉ riêng nhà máy thủy điện A Lưới (công suất 170MW) dừng hoạt động để bảo trì trong các tháng đầu năm đã tác động làm giảm gần 1% tốc độ tăng trưởng.

Khu vực dịch vụ, mặc dù lượt khách tăng cao nhưng ngày khách lưu trú bình quân có xu hướng giảm, chỉ đạt 1,76 ngày/lượt khách[29]. Nguyên nhân là do chỉ mới tập trung khai thác một số dịch vụ thông thường, thiếu các dịch vụ cao cấp, chất lượng cao để giữ chân du khách lâu hơn.

Cơ cấu nội bộ ngành kinh tế dịch vụ chuyển biến chậm, các phân ngành dịch vụ quan trọng như y tế, giáo dục, tài chính, viễn thông, CNTT,... chưa đủ mạnh, tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện có.

- Mặc dù Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết rà soát, giám sát tiến độ các dự án ngoài ngân sách và các sở, ngành đã tích cực đôn đốc, hỗ trợ; nhưng nhìn chung tiến độ đầu tư các dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách còn chậm, chưa đạt như kỳ vọng đã đề ra.

- Công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tuy có bước cải thiện nhưng vẫn chưa theo kịp các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước.

- Tiến độ xây dựng các đề án đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu quả các đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) của các sở, ngành, địa phương còn chậm.

II. MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM

Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, hoàn thành kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2018, các sở ban ngành, địa phương cần thực hiện quyết liệt và có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018; Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 05/12/2017 của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 42/2017/NQ-HĐND ngày 09/12/2017 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018; Quyết định số 3039/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, các kế hoạch ngành đã ban hành…; Tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm sau đây: 

1. Chỉ đạo ổn định và phát triển sản xuất, phấn đấu thực hiện đạt kế hoạch tăng trưởng kinh tế đã đặt ra trong năm 2018.

Tiếp tục duy trì mức sản xuất ổn định của các sản phẩm chủ lực đã có; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ để sớm hoàn thành đưa vào hoạt động một số dự án tăng năng lực sản xuất; cụ thể: Nhà máy sản xuất gạch ốp lát granit của công ty Vitto Phú Lộc; Nhà máy điện mặt trời Phong Điền; các dự án thủy điện Alin B1, Alin B2, Alin Thượng Nhật; dự án dây chuyền nhà máy bia Carslberg (di dời từ Hà Nội vào); Dự án tăng công suất nhà máy sản xuất vỏ lon bia (tập đoàn Baostell); Sản xuất và gia công các loại sản phẩm gỗ của Công ty TNHH Lee&Park Wood Complex; Trung tâm thương mại khách sạn 05 sao Vincom-Vinpeal,… (chi tiết tại phụ lục đính kèm).

Triển khai xây kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch đầu tư công năm 2019. Rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2019-2021.

2. Tiếp tục tổ chức triển khai các nhiệm vụ tại Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 12/2/2018 về thực hiện ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với tỉnh Thừa Thiên Huế và với Đại học Huế tại Thông báo số 26/TB-VPCP và 38/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ. Trong đó tập trung triển khai công tác GPMB nhằm đảm bảo sớm khởi công dự án đầu tư nhà ga, sân đỗ Cảng Hàng không quốc tế Phú Bài; xây dựng cơ chế đặc thù di dời, hỗ trợ tái định cư các hộ dân trong khu vực I di tích Huế và cơ chế chính sách cho Đại học Huế báo cáo các bộ ngành liên quan và Thủ tướng Chính phủ.

3. Đẩy mạnh tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách. Khai thác tốt các nguồn thu và huy động thu, đảm bảo hoàn thành dự toán năm 2018; thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Rà soát, cơ cấu lại các khoản mục chi ngân sách; tập trung nguồn chi cho các mục tiêu đầu tư phát triển trọng yếu, chi công tác giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch kêu gọi đầu tư, chỉnh trang đô thị.

Sớm triển khai xây dựng các đề án nâng cao năng lực ngành thuế[30] để góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của ngành thuế.

4. Tăng cường công tác quy hoạch, đô thị, quản lý đầu tư, xây dựng cơ bản

Tổ chức lập quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030; đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh Quy hoạch khu trung tâm phía Nam, xây dựng thiết chế đô thị, quy hoạch chi tiết cục bộ khu vực tam giác đường Lê Lợi - Hà Nội - Hùng Vương. Rà soát lại các quy hoạch, trọng tâm là điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, quy hoạch vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, khu đô thị mới An Vân Dương, quy hoạch chi tiết một số trục đường trung tâm vùng lõi đô thị Huế; giao thông tĩnh… để phát huy tiềm năng và lợi thế so sánh của từng khu vực trong thu hút đầu tư. Nghiên cứu, lập quy hoạch quỹ đất tái định cư để chủ động trong việc thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh. Rà soát tổng thể, lập phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà đất theo Nghị định 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ; trong đó nghiên cứu phương án cụ thể di dời, sắp xếp một số trụ sở các cơ quan dọc tuyến đường Lê Lợi, Hà Nội, Nguyễn Huệ, Hùng Vương... để xây dựng quy hoạch chi tiết và chuẩn bị thông tin từng dự án cụ thể nhằm xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả.

Nghiên cứu, đề xuất hướng tuyến, quy mô đường ven biển từ Phong Điền đến Phú Lộc đảm bảo mục tiêu phát triển đô thị, quy hoạch ven biển. Nghiên cứu quy hoạch các khu chức năng như: Khu vực Hải Dương (Hương Trà), Vinh Thanh - Vinh Phú - Vinh Thái (Phú Vang), Ngũ Hồ - Bàu Trằm (Phong Điền).

Đẩy nhanh tiến độ dự án quy hoạch chi tiết hai bờ sông Hương và dự án mạng lưới kết nối tuyến đường đi bộ phía Nam sông Hương, thành phố Huế (dự án thí điểm do KOICA tài trợ), từng bước hình thành sản phẩm du lịch của năm là dự án tuyến phố đi bộ dọc sông Hương (đường Nguyễn Đình Chiểu) gắn với không gian nghệ thuật dọc đường Lê Lợi. Tiếp tục nghiên cứu đầu tư các điểm giao thông tĩnh trên địa bàn thành phố Huế và vùng phụ cận.

Triển khai Kế hoạch số 110/KH-UBND về việc thực hiện việc mở cuộc vận động toàn dân xây dựng Thừa Thiên Huế sáng - xanh - sạch, không rác thải. Hoàn thành Đề án "Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao giá trị thương hiệu chợ Đông Ba, thành phố Huế" và xúc tiến nâng cấp và cải tạo chợ Đông Ba.

Tập trung hỗ trợ, tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện dự án. Đôn đốc, hỗ trợ triển khai đúng tiến độ các dự án trọng điểm như: đường Phú Mỹ - Thuận An, Chợ Mai - Tân Mỹ, Thủy Phù - Vinh Thanh, Phong Điền - Điền Lộc; hầm đường bộ Hải Vân giai đoạn II, mở rộng ga hành khách Cảng hàng không quốc tế Phú Bài, đường cao tốc Cam Lộ - La Sơn, La Sơn – Túy Loan, dự án cải thiện môi trường nước thành phố Huế, dự án khu phức hợp du lịch dịch vụ Đăng Kim Long, Dự án Khu chung cư Đống Đa,...Đẩy nhanh tiến độ các dự án: bến số 2, số 3 cảng Chân Mây; đê chắn sóng cảng Chân Mây; hạ tầng khu công nghiệp - khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây và các khu công nghiệp: Phú Bài, Phong Điền, La Sơn, Tứ Hạ. Tiếp tục giám sát chặt chẽ tiến độ các dự án ngoài ngân sách theo Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh. Kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ, chậm triển khai.

Nghiên cứu điều chỉnh chủ trương đầu tư các dự án từ hình thức BT sang hình thức khác phù hợp.

5. Thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ đi vào chiều sâu; phát triển công nghiệp công nghệ thông tin.

Triển khai tốt Chương trình “Mỗi năm một sản phẩm du lịch”; tập trung sản phẩm du lịch năm 2018. Hoàn thành và triển khai thực hiện đề án phát triển dịch vụ đô thị thông minh. Phối hợp cùng Công viên Phần mềm Quang Trung xây dựng mô hình chuỗi tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

6. Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và các thành phần kinh tế

Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Triển khai có hiệu quả chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh; Hoàn thiện, ban hành chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.

Xây dựng, triển khai Kế hoạch Xúc tiến thương mại và phát triển thị trường sản phẩm chủ lực nông sản, đặc sản, thủ công mỹ nghệ năm 2018; vận hành có hiệu quả hệ thống thông tin về đất đai, thông tin giải phóng mặt bằng...

Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư. Ổn định tổ chức, hoạt động và phát huy vai trò của Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế trực thuộc UBND tỉnh.

7. Phát triển công nghiệp, nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác

Phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp, di dời các cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào các cụm, điểm công nghiệp, làng nghề tập trung.

Tập trung chỉ đạo gieo trồng, chăm sóc vụ Hè Thu. Rà soát, bổ sung một số cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông sản đạt tiêu chuẩn VietGap, nông sản hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao. Xây dựng phát triển các sản phẩm đặc sản chủ lực gắn liền với xây dựng thương hiệu và chuỗi giá trị.

Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống chữa cháy rừng. Tăng cường kiểm tra chất lượng các công trình hồ chứa, đập dâng, công trình phòng lũ, đảm bảo nguồn nước tưới, tăng khả năng tiêu, thoát lũ. Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ; chính sách hỗ trợ khôi phục và phát triển sản xuất thủy sản theo Quyết định số 12/QĐ-TTg ngày 06/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ....Tiếp tục Chương trình xây dựng nông thôn mới, duy trì các xã đạt chuẩn, phấn đấu cuối năm có thêm 10 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới.

8. Thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hoá, giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học công nghệ, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội

a) Văn hóa - thể thao: Tăng cường công tác quản lý nhà nước về các hoạt động văn hóa và thể thao theo đúng quy định. Chấn chính, nâng cao chất lượng hoạt động ca Huế, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của du khách. Tiếp tục thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Rà soát, sắp xếp lại các bảo tàng, nhà trưng bày bảo đảm hợp lý, hiệu quả. Tổ chức tổng kết 10 kỳ tổ chức Festival Huế. Tổ chức tốt các giải thể thao trên địa bàn tỉnh[31].

b) Giáo dục - đào tạo: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và chất lượng giáo dục mũi nhọn; phấn đấu tăng tỷ lệ đạt giải cao học sinh giỏi quốc gia và có giải quốc tế. Tăng cường giáo dục toàn diện, giá trị sống, kỹ năng sống, các kiến thức nền tảng về nghề nghiệp. Thực hiện thí điểm xã hội hóa một số trường ở thành phố Huế theo hướng tự chủ.

Tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, thực hiện tốt việc huy động trẻ trước 5 tuổi ra lớp; tăng cường công tác quản lý đối với các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập.

Thực hiện tốt công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2018. Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của Đại học Huế theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: xây dựng phương án tái cấu trúc ĐHH, thông qua các đề án mở ngành của các trường đại học thành viên và đơn vị trực thuộc.

c) Y tế: Củng cố và nâng cao hiệu quả mạng lưới y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, không để các dịch, bệnh lớn xảy ra; tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp để giảm quá tải bệnh viện, nâng cao dịch vụ y tế; quản lý chặt chẽ giá thuốc và chất lượng thuốc chữa bệnh; tăng cường kiểm tra, thanh tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tăng cường công tác quản lý ngành y tế. Nghiên cứu Đề án xây dựng Y tế trở thành ngành Kinh tế quan trọng của tỉnh.

Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, từng bước thực hiện “bảo hiểm y tế toàn dân”. Kiểm soát tăng dân số và giảm mất cân bằng giới tính khi sinh.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả đề án chủ động phòng chống các loại dịch bệnh, hạn chế thấp nhất nguy cơ xảy ra dịch bệnh. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác an toàn thực phẩm.

d) Đào tạo nghề, lao động việc làm và an sinh xã hội

Tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đẩy mạnh công tác tuyển sinh học nghề, đặc biệt là tuyển sinh hệ trung cấp và cao đẳng nghề. Kịp thời triển khai đào tạo nghề nông thôn. Rà soát các Trường, các Trung tâm và các đơn vị đào tạo nghề trên địa bàn để có phương án sắp xếp các cơ sở đào tạo nghề phù hợp. Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tăng cường tuyên truyền chính sách hỗ trợ cho các đối tượng là người thuộc hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ bị ảnh hưởng sự cố môi trường biển để tham gia đi xuất khẩu lao động. Phấn đấu cả năm đưa 500 lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo vệ chăm sóc trẻ em. Tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Thừa Thiên Huế chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” đến năm 2020 theo Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 17/01/2018. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 5%.

đ) Khoa học công nghệ

Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành khoa học – công nghệ đến năm 2020 và giai đoạn 2020 – 2025; nghiên cứu xây dựng khu tập trung dịch vụ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; phối hợp tổ chức ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Vùng duyên hải miền Trung năm 2018 tại Thừa Thiên Huế. Đổi mới công tác ứng dụng, triển khai các đề tài khoa học. Cập nhật và khai thác có hiệu quả cơ sở dữ liệu GISHue. Duy trì áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 chuyển đổi sang TCVN 9001:2015 cho các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh

9. Đẩy mạnh cải cách hành chính, công tác nội vụ

Đẩy mạnh cải cách hành chính và thực thi kỷ cương, kỷ luật hành chính; đề cao trách nhiệm, tác phong người đứng đầu. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng dẫn của Trung ương đảm bảo tinh gọn, hợp lý và vận hành hiệu quả. Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo Chương trình hành động của UBND tỉnh. Thực hiện Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế cho các đơn vị trên địa bàn tỉnh. Tập trung hoàn thành Đề án đổi mới mô hình hoạt động Trung tâm Festival Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, kỷ cương kỷ luật của đội ngũ cán bộ, công chức, cải thiện chất lượng tham mưu của các cơ quan chuyên môn.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính. Tiếp tục vận hành hiệu quả Trung tâm Hành chính công tỉnh, cấp huyện và triển khai Đề án Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại cấp xã. Triển khai một số dịch vụ đô thị thông minh phù hợp, phát huy hiệu quả mô hình chính quyền điện tử các cấp. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, tăng cường các giải pháp giám sát đầu tư, chủ động kêu gọi đầu tư theo định hướng phát triển, thúc đẩy quá trình tiếp cận đất đai theo quy định.

            Triển khai đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh các sở ban ngành và địa phương thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2018; tổ chức hội nghị phổ biến mục đích, ý nghĩa của việc khảo sát các chỉ số Par index, ICT, PAPI, DCCI  cho các Sở ngành, địa phương; tổ chức phổ biến cho cộng đồng doanh nghiệp về mục đích ý nghĩa của việc khảo sát DDCI.

10. Quản lý tài nguyên và môi trường, thích nghi biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai

Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp huyện; phê duyệt kế hoạch sử dụng đất cấp huyện năm 2019.

Tăng cường chỉ đạo công tác GPMB. Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư; đồng thời, kịp thời xử lý các vướng mắc liên quan đến cơ chế bồi thường cho người dân và bố trí quỹ đất tái định cư; củng cố bộ máy, năng lực đơn vị thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, đặc biệt là tại thành phố Huế, thị xã Hương Thủy, huyện Phú Lộc và Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô. Hoàn thành giải toả, chỉnh trang Thượng Thành, Eo bầu phía Nam (giai đoạn 1) và tiến hành giai đoạn 2...Nghiên cứu phương án để từng bước di dời, tái định cư khu vực I, II di tích Huế, Cồn Hến, Cồn Dã Viên, mở rộng sân bay quốc tế Phú Bài.

Tiếp tục rà soát, kiểm tra, kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về môi trường; tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông, bãi bồi trên địa bàn; xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, vận chuyển cát, sỏi lòng sông, bãi bồi trái phép.

Thực hiện kế hoạch phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp; chủ động phòng chống khô hạn, lụt bão,...

11. Công tác đối ngoại, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội

Tăng cường công tác tham mưu và công tác quản lý nhà nước về đối ngoại; thúc đẩy hội nhập quốc tế và đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, nâng cao năng lực quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) và vận động viện trợ PCPNN. Tăng cường thúc đẩy ngoại giao văn hóa; công tác quản lý nhà nước về biên giới và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại.

Triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng địa phương 6 tháng cuối năm. Tiếp tục làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thực hành diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện, diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng; chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện tham gia phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn.

Chủ động đẩy mạnh đấu tranh, trấn áp tội phạm; ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi có tính chất côn đồ, cướp giật, trộm cắp, ma túy. Làm tốt công tác bảo vệ an toàn các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, xử phạt vi phạm trật tự an toàn giao thông.

Tăng cường chủ động nắm chắc và dự báo sát tình hình ở cơ sở, kiên quyết xử lý kịp thời theo quy định các đối tượng xấu, chủ mưu cầm đầu kích động, bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội. Trong đó, thủ trưởng cơ quan hành chính các cấp tăng cường nắm bắt tình hình thực tế, dành thời gian thỏa đáng trực tiếp đối thoại, giải trình, trả lời kiến nghị của người dân, tập trung giải quyết căn bản những vấn đề xã hội bức xúc ở cơ sở; đồng thời chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; chủ động phương án xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp phát sinh, không để bị động, bất ngờ, phát sinh thành "điểm nóng" gây phức tạp về an ninh, trật tự.

 

 



[1] Những năm 2014, 2015, 2016, 2017 lượt khách lưu trú chỉ tăng ở mức 4-7%

[2] Ước tính ngành điện tăng trưởng âm làm mất đi gần 1% tăng trưởng chung của nền kinh tế

[3]Trong 5 tháng đầu năm 2018 tham quan di tích đạt 1.552,28 nghìn lượt khách, tổng doanh thu bán vé đạt 174,46 tỷ đồng, tăng 24% về lượt khách và 28,8% về doanh thu so với cùng kỳ.

[4] Trong đó, khu vực doanh nghiệp trong nước chiếm 44,3%, tăng 16,61%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 55,7% tăng 7,14%.

[5] Trong đó khu vực doanh nghiệp trong nước chiếm 53,4% triệu USD, tăng 13,33%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 46,6%, tăng 0,71%.

[6] Thấp hơn mức tăng 13,45% của 6 tháng đầu năm 2017

[7] Nhà máy sản xuất gạch ốp lát granit của Công ty Vitto Phú Lộc (công suất 7,2 triệu m2/năm, vốn đầu tư 610,9 tỷ đồng); giai đoạn 2 - Dự án sản xuất lon nhôm 02 mảnh của Công ty TNHH Baosteel Can Making Huế VN, nhà máy may 4 của Công ty CP Dệt may Huế tại KCN Phú Đa...)

[8]Ngô 1.069 ha, giảm 2,7%; khoai lang 1.575 ha, giảm 28%; sắn 5.724 ha, giảm 8,7%; ớt cay 305 ha, giảm 1,2%; lạc 3.011 ha, giảm 4,3%...

[9] Ngô năng suất đạt 40 tạ/ha, giảm 1,2% và sản lượng đạt 4.276 tấn, giảm 3,9% so cùng kỳ năm trước; cây khoai lang đạt 51,2 tạ/ha, tăng 4,8% và đạt 8.061 tấn, giảm 8,7%; cây lạc đạt 22,4 tạ/ha, tăng 3,7% và đạt  6.744 tấn, giảm 0,8%; cây rau các loại đạt 102,7 tạ/ha, tăng 1% và đạt 32.051 tấn, tăng 11,4%.

[10] Tính đến 01/5/2018, tổng đàn đạt được: đàn trâu 22.455 con, tăng 0,11%; đàn bò 34.362 con, tăng 1,32%; đàn lợn 162.350 con, giảm 11,75%; đàn gia cầm 2.726 nghìn con, tăng 3,22%, trong đó đàn gà 2.031 nghìn con.

[11] Theo công bố Hiện trạng rừng toàn quốc năm 2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

[12] Công ty TNHH Đăng Kim Long (nghiên cứu đầu tư dự án Kim Long Motors Company – Huế thuộc Khu phi thuế quan, Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô với diện tích 214 ha); Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Angel 9 hợp tác với Công ty GS Engineering & Construction – Tập đoàn GS (nghiên cứu đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô); Công ty Olympia Capital (nghiên cứu dự án đầu tư nhà ở xã hội tại khu đất có ký hiệu 10 thuộc Khu đô thị mới Mỹ Thượng.  

[13] Đồ án Quy hoạch: phân khu Khu dân cư Hương An, phường An Hòa;  phường Hương Long, thành phố Huế và phường Hương An, thị xã Hương Trà, QH phân khu Khu dân cư Thủy Thanh;  phường An Đông, thành phố Huế; QH chi tiết Trường học và bệnh viện thực hành trường Đại học Y Dược Huế tại khu A – đô thị mới An Vân Dương,; QH phân khu Khu E – Đô thị mới An Vân Dương; Nhiệm vụ QH chi tiết xây dựng (tỷ lệ 1/500): Chợ Du lịch Huế, phường An Đông, thành phố Huế và phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy,... Điều chỉnh QH chi tiết Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng Vinconstec – Huế, QH cục bộ phường Phú Hậu,…

[14] Vốn ngân sách Trung ương quản lý 435 tỷ đồng, bằng 48,3% KH, giảm 3,3%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 1.152 tỷ đồng, bằng 45% KH, tăng 16,2%.

[15] Dự án bảo tồn, tu bổ và phục hồi lăng Dục Đức; Hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu vực Hoàng Thành; Cầu Lợi Nông; Kè chống sạt lở bờ sông Hương đoạn qua phường Hương Hồ và xã thủy Bằng; Nâng cấp đê kết hợp giao thông đê Nho Lâm-Nghĩa Lộ đoạn qua xã Quảng Phú và Quảng Thọ; Dự án đầu tư xây dựng Khu kinh tế quốc phòng A So; Giảng đường trường Cao đẳng Công nghiệp; Học viện Âm Nhạc Huế; Nhà hát Sông Hương; Viện nghiên cứu khoa học Miền Trung;…

[16] Dự án thu gom chất thải rắn xã Phú Hải, Phú Vang đã hoàn thành; Dự án thu gom và xử lý rác thải các xã Ngũ Điền, Phong Điền đang thi công, đạt 40% khối lượng; Dự án bãi rác Hương Bình đang tổ chức lựa chọn nhà thầu; Dự án MR bãi chôn lấp rác Thủy Phương đang thi công, đạt 70% khối lượng; Dự án bãi chôn lấp rác Phú Sơn đang thi công, đạt 60% khối lượng;Dự án lò đốt rác Phú Sơn đã mở thầu lựa chọn nhà đầu tư, đang tổ chức xét thầu.

[17] Đã phát hiện 68 vụ vi phạm môi trường, giảm 11 vụ so cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 49 vụ với tổng số tiền phạt 388,4 triệu đồng. Các hành vi vi phạm chủ yếu: thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi, chặt phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép và vận chuyển thực phẩm bẩn không rõ nguồn gốc.

[18]100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD mầm non trẻ 5 tuổi; 99,34% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD Tiểu học mức độ III; 92,76% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS mức độ II.

[19] Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở Nhà trẻ là 3,0%, ở Mẫu giáo là 3,2%; tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình lớp học ở cấp tiểu học là 99,09%; ở cấp THCS có 87,62% học sinh xếp loại hạnh kiểm Tốt, 24,05% học sinh xếp loại học lực Giỏi; cấp THPT có 81,29% học sinh xếp loại hạnh kiểm Tốt, 13,85% học sinh xếp loại học lực Giỏi.

[20] Ban hành Nghị quyết của Hội đồng ĐHH về phương án tổ chức nhân sự, kế hoạch tài chính và cơ sở vật chất của ĐHH năm 2018, Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng ĐHH, Quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Văn phòng và các Ban chức năng; Quy trình giải quyết công việc của Văn phòng và các Ban chức năng; Quy định công tác văn thư, lưu trữ; Quy chế hoạt động các nhóm nghiên cứu mạnh; Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Hoàn thành dự thảo Quy định xét thay đổi chức danh nghề nghiệp hạng III, Quy định về phân cấp quản lý đề tài cấp Quốc gia, Bộ.

[21] Viện CNSH, Trung tâm GDQP-AN, Trung tâm PVSV, Khoa GDTC, Khoa Du lịch

[22] Dự án đầu tư giai đoạn 2 xây dựng Đại học Huế, dự án nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học và khám chữa bệnh tại Trường đại học Y dược và Bệnh viện Trường đại học Y dược, dự án khu tái định cư phục vụ phục vụ giải tỏa 2,32ha Đại học Huế

[23] Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi

[24] Ký kết 8 biên bản ghi nhớ hợp tác về các hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giữa ĐHH với VCCI, các doanh nghiệp, nhà đầu tư thiên thần, dự án khởi nghiệp quốc gia; phối hợp với Vincom tổ chức ngày hội tuyển dụng cho sinh viên

[25] Theo Quyết định số 817/QĐ-UBND ngày 16/4/2018 của UBND tỉnh, có hiệu lực kể từ ngày 02/5/2018.

[26] Trong đó, đã giải quyết 1.163 hồ sơ; đang giải quyết: 106 hồ sơ; chuyển Phòng Lao động – TB&XH để hoàn chỉnh hồ sơ và hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết: 188 hồ sơ. Tiếp nhận: 26 đơn thư (Trong đó: Đã giải quyết 21 đơn, đang giải quyết: 05 đơn ). Ngoài ra, đã rút hồ sơ kiểm tra, đối chiếu danh sách hơn 1.300 trường hợp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học để truy thu trợ cấp theo Nghị định số 31/NĐ-CP trước đây đã chi trả vượt do văn bản Trung ương quy định việc điều chỉnh chế độ ban hành chậm. Tuy nhiên, qua kiểm tra chỉ có 41 trường hợp thuộc diện truy thu theo quy định. Số còn lại đã từ trần, di chuyển đi nơi khác và không thuộc diện truy thu theo quy định (không có biên bản giám định y khoa).

[27] Bản Thỏa thuận về thiết lập quan hệ hợp tác kết nghĩa giữa UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế và Chính quyền  Quận Wando (Hàn Quốc), ký kết ngày 31/01/2018; Dự thảo Bản ghi nhớ hợp tác kết nghĩa giữa UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Chính quyền thành phố Dortmund (Đức).

[28] Dự án “Giảm thiểu nguy cơ bom mìn còn sót lại tại tỉnh Thừa Thiên Huế” do Tổ chức DDG-Đan Mạch viện trợ.

[29] Ngày khách lưu trú bình quân năm 2016 là 1,84 ngày/khách; năm 2017 đạt 1,8 ngày/khách

[30] Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành thuế; Đề án chống thất thu thuế trong lĩnh vực sử dụng đất, cho thuê đất đối với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; Đề án chống thất thu thuế đối với các trường hợp thuế khoán; Đề án xử lý nợ thuế và thu hồi nợ đọng thuế.

[31] Phối hợp chỉ đạo đội bóng đá Huế tham gia thi đấu tại Giải bóng đá hạng Nhất quốc gia; tập trung luyện tập các bộ môn thể thao trọng điểm, ưu tiên đầu tư các vận động viên có khả năng tranh chấp huy chương tại Đại hội TDTT toàn quốc năm 2018. Triển khai Kế hoạch tổ chức Giải Vô địch trẻ Judo các lứa tuổi toàn quốc 2018 và Kế hoạch tổ chức Giải Hue Marathon và giải đua xe đạp quốc tế...

www.thuathienhue.gov.vn
 Bản in]