Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Thực hiện Quy chế tổ chức đối thoại trực tuyến trên môi trường mạng giữa lãnh đạo tỉnh với cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 1834/QĐ-UBND ngày 17/9/2013 của UBND tỉnh. Hôm nay, ngày 15/3/2019, tại Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương cùng với ông Nguyễn Quang Cường - Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, ông Hồ Vang - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ đối thoại trực tuyến với cá nhân, tổ chức với chủ đề "Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp".

Buổi đối thoại được truyền hình trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế (www.thuathienhue.gov.vn) và trên website của Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh (www.trt.vn).

Quý vị quan tâm xin mời gửi câu hỏi đến Ban Biên tập qua địa chỉ thư điện tử: bbt.ubnd@thuathienhue.gov.vn và gọi điện thoại qua đường dây nóng 0234.362.9999, hoặc gửi trực tiếp tại chuyên mục “Trao đổi và tháo gỡ” trên trang chủ của Cổng Thông tin điện tử Thừa Thiên Huế.

Vâng, thưa ông Nguyễn Văn Phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh , trước khi bắt đầu đối thoại ông có điều gì chia sẻ cùng với các cá nhân, tổ chức đang theo dõi và tham gia buổi đối thoại trực tuyến hôm nay không ạ? 

Phó Chủ tịch UBND tỉnh  Nguyễn Văn Phương

PhóPhó

PHÁT BIỂU KHAI MẠC CỦA PHÓ CHỦ TỊCH UBND TỈNH NGUYỄN VĂN PHƯƠNG TẠI BUỔI ĐỐI THOẠI 

(ngày 15/8/2019)

 

Xin kính chào tất cả quý vị đang theo dõi chương trình đối thoại trực tuyến với chủ đề “Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp”  trên Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế sáng ngày hôm nay!

Kính thưa quý vị!

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, Ðảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để phát triển đồng bộ nông nghiệp, nông thôn, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.

Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế chúng ta - là địa phương có địa hình khá đa dạng, có cả vùng rừng núi, vùng biển, vùng đầm phá và vùng đồng bằng; là nơi giao thoa khí hậu của 02 miền Nam - Bắc nên có cơ cấu cây trồng, vật nuôi khá đặc biệt, phong phú. Thừa Thiên Huế có thị trường tiêu thụ nông sản rộng lớn, hàng năm nhu cầu cung cấp lương thực, thực phẩm cho trên 4,3 triệu khách du lịch; trên 1,1 triệu lao động ngành công nghiệp và nhân dân trong tỉnh.

Những năm qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xác định nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời xác định tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo và phải bắt đầu từ việc xác định lợi thế của địa phương. Cùng với việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh và cân đối bố trí nguồn lực thực hiện hàng năm. Đồng thời tạo cơ chế cũng như vận động các doanh nghiệp vào hợp tác với người dân để sản xuất nông sản hàng hóa. Nhờ vậy, đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh; đã hình thành một số mô hình chuyên canh, có năng suất và chất lượng cao; đã hình thành vùng sản xuất lúa hàng hóa theo mô hình cánh đồng lớn với diện tích trên 4 nghìn ha, đang phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng VietGAP, nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao... Kết quả đạt được trong xây dựng NTM làm đổi thay diện mạo các vùng nông thôn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên đáng kể.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn trong thực hiện các chỉ tiêu NTM, nhất là những tiêu chí đòi hỏi về nguồn kinh phí lớn như: cơ sở hạ tầng, đường giao thông, xây dựng thiết chế văn hóa, tiêu chí thu nhập, hộ nghèo... Để hoàn thành lộ trình xây dựng nông thôn mới đúng thời gian thì vẫn đang là một bài toán nan giải đòi hỏi không chỉ riêng sự nỗ lực của các địa phương, mà rất cần sự hỗ trợ, quan tâm của các cấp, các ngành.

Nối tiếp các hoạt động sau chuỗi sự kiện liên quan đến ngành Nông nghiệp vừa diễn ra vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8 vừa rồi đó là: Hội nghị thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế và Hội chợ sản phẩm nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019, hôm nay, UBND tỉnh tiếp tục tổ chức đối thoại trực tuyến với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh với chủ đề "Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp" trên Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế. Qua buổi đối thoại này, chúng tôi mong muốn được lắng nghe một cách toàn diện hơn đồng thời trực tiếp giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về công tác xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh nhà.

Trên tinh thần trao đổi, cầu thị và hết sức trách nhiệm, chúng tôi - các nhà quản lý sẽ sẵn sàng tiếp nhận và giải đáp những kiến nghị, vướng mắc gửi về cuộc đối thoại này một cách thỏa đáng, đáp ứng sự mong mỏi, quan tâm của quý vị. Rất mong nhận được sự tham gia tích của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp để buổi đối thoại đạt kết quả cao.

Xin trân trọng cảm ơn!


Toàn cảnh buổi đối thoại

Dưới đây là phần trả lời một số câu hỏi của bạn đọc sau buổi đối thoại trực tuyến. Mời các bạn quan tâm, theo dõi!

Câu hỏi của bạn Trần Trọng Hướng, thành phố Huế: Tôi xin hỏi việc đưa ứng dụng công nghệ cao trong phát triển nông nghiệp gắn với sản xuất nông nghiệp sạch tại tỉnh sắp tới tập trung hướng phát triển như thế nào? người dân được hỗ trợ những gì khi đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng này.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

- Định hướng về ứng dụng công nghệ cao,phát triển sản xuất nông nghiệp sạch

Theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 của tỉnh Thừa Thiên Huế thì ứng dụng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm nông nghiệp sạch là một trong những quan điểm chủ đạo; cụ thể:

- Trọng tâm của tái cơ cấu là đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng, giá trị cao và thân thiện với môi trường; nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp hàng hóa có lợi thế của tỉnh; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; ưu tiên ứng dụng công nghệ cao, các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến là khâu đột phá nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành, gắn sản xuất với nhu cầu của thị trường nhằm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân;

- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi, vệ sinh an toàn thực phẩm cho người sản xuất và người tiêu dùng; Đổi mới tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác với doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt. Tạo môi trường thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tham gia liên kết theo chuỗi; Lấy địa bàn xã làm cơ sở để chỉ đạo thực hiện tái cơ cấu gắn với xây dựng nông thôn mới.

Một số giải pháp cụ thể:

1. Nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi các quy trình, kỹ thuật tiên tiến, đẩy mạnh đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:

- Đối với trồng trọt: Ứng dụng quy trình cơ giới hoá đồng bộ (từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến); Ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây trồng; Ứng dụng công nghệ cao vào phát triển các vùng sản xuất tập trung nhất là sản xuất rau hoa, cây trồng đặc sản có giá trị cao; Gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến; Phát triển vùng sản xuất rau tập trung, chuyên canh; Rau, hoa trong nhà lưới; Sản xuất chế biến an toàn theo chuỗi, quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP); Triển khai các mô hình tưới tiết kiệm, tưới cây trồng cạn.

- Đối với chăn nuôi: Nghiên cứu phát triển và ứng dụng quy trình chăn nuôi lợn, gà theo tiêu chuẩn VietGAP. Phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại tập trung, hiện đại từ khâu giống, sản xuất, chế biến thức ăn, chăm sóc, giết mổ. Ứng dụng công nghệ cao vào phát triển chăn nuôi, kiểm soát và chăn nuôi an toàn dịch bệnh, xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng công nghệ hầm khí sinh học, sử dụng đệm lót sinh học nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường,...

- Đối với lâm nghiệp: Ứng dụng khoa học công nghệ để hỗ trợ quản lý, bảo vệ và phát triển lâm nghiệp như: GIS, viễn thám, điện tử. Đẩy mạnh áp dụng cơ giới hoá trong trồng rừng, đặc biệt là khai thác rừng trồng. Tập trung hướng dẫn, khuyến khích mở rộng diện tích rừng sản xuất theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (FSC), …

- Đối với thuỷ sản: Mở rộng diện tích ứng dụng quy trình kỹ thuật, công nghệ nuôi thâm canh theo tiêu chuẩn VietGAP; Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nuôi thâm canh một số loại thuỷ sản đặc sản phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh. Chuyển giao công nghệ khai thác hải sản, máy do ngang, thông tin liên lạc tầm xa … đối với tàu cá xa bờ.

2. Tập trung đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất giống.

- Đối với cây nông nghiệp: Đẩy mạnh khảo nghiệm, phát triển đưa vào cơ cấu sản xuất các giống lúa, ngô, lạc, sắn,  rau, quả, …có năng suất, chất lượng cao thích ứng với từng vùng sinh thái của tỉnh. Chủ động tiếp cận và ứng dụng đưa các giống biến đổi gen, giống rau lai F1 vào sản xuất khi được các cơ quan quản lý cho phép. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ nhu cầu trong tỉnh.

- Đối với giống vật nuôi:

+ Tăng cường công tác giống vật nuôi; Tổ chức triển khai các quy định pháp quy về quản lý giống vật nuôi phù hợp điều kiện chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.

+ Tiếp tục triển khai các chương trình cải tạo giống trâu, bò: Thực hiện thụ tinh nhân tạo, cải tiến giống bò lai theo quy hoạch.

+ Nâng cao chất lượng đàn lợn (sinh sản, tỷ lệ nạc và chất lượng thịt) theo hai phương thức: Nuôi lợn ngoại là chủ yếu và lai cải tiến các giống lợn.

+ Tuyển chọn, nhân giống nhân tạo các giống vật nuôi nhập nội có năng suất chất lượng và phù hợp đưa vào nuôi trên địa bàn.

- Đối với cây lâm nghiệp: Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mô, hom để nhân nhanh các giống cây lâm nghiệp mới có tốc độ sinh trưởng cao, chất lượng gỗ tốt, như: Keo tai tượng hạt ngoại, bạch đàn mô,…các loài cây bản địa phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn như: Sao đen, Dầu rái, Sến trung, Huỷnh, Giổi, Lim xanh,... Chú trọng công tác nghiên cứu bảo tồn và phát triển các giống cây lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu.

- Đối với giống thuỷ sản: Hoàn thiện các quy trình sản xuất đảm bảo an toàn sinh học để sản xuất ra giống tốt, giống sạch bệnh một số đối tượng có nhu cầu cao (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, rô phi…). Đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng sản xuất giống, các khu ương nuôi giống tập trung. Chú trọng cải tạo đàn cá bố mẹ; Nhanh chóng ứng dụng, chuyển giao công nghệ sản xuất giống đã nghiên cứu thành công trong nước như: Tôm thẻ chân trắng, sản xuất giống nhuyễn thể, các loài cá biển (cá giò, hồng…)…Tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm để nhập công nghệ sản xuất giống, giống mới, thuỷ sản đặc sản, thuỷ sản đặc hữu cho giá trị kinh tế cao.

3. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng lực và chất lượng chế biến nông lâm thủy sản

Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại. Gắn sản xuất với công nghiệp chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng đối với các sản phẩm có lợi thế của tỉnh như: Cao su, cà phê, lạc, sắn các loại rau, quả; Các sản phẩm chăn nuôi; Thủy sản, lâm nghiệp, dược liệu,…

Về chính sách hỗ trợ:

Nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức phát triển nông nghiệp công nghệ cao; UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 về một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huếgiai đoạn 2016 – 2020. Trong đó Đối tượng áp dụng làcác cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Một số nội dung hỗ trợ cụ thể: “Dự án đầu tư cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có quy mô từ 500 m2 trở lên (đối với trồng trọt);­2.000 m2 (đối với nuôi trồng thủy sản); được hỗ trợ 50% chi phí nhưng không quá 500 triệu đồng/cơ sở để đầu tư xây dựng nhà lưới, nhà bạt; lắp đặt các thiết bị chuyên dùng như hệ thống tưới nhỏ giọt, phun sương, sục khí, xử lý nước cấp, nước thải, ...”. Ngoài ra còn hỗ trợ đường giao thông, hệ thống điện, cấp nước đến hàng rào dự án (Các dự án chưa có các hạng mục này).

Lưu ý: Các dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển của địa phương nơi dự án đầu tư.

Câu hỏi của bạn Tan Ton That Phuc, Emai: Tan177vn@gmail.com: TT Huế hiện đang được các Nhà đầu tư bất động sản để ý, vậy Ngành Nông Nghiệp sẽ quy hoạch đất dành cho Phát Triển nông nghiệp như thế nào để đảm bảo sau này Người làm Nông nghiệp vẫn còn đất để sản xuất ? Vấn đề hỗ trợ là năm nào cũng có và nơi nào cũng có, vậy Tỉnh cho biết hiện nay Ngành nông nghiệp đã tập trung phát triển thương hiệu đến các Hộ gia đình/ Hộ kinh doanh cá thể chưa ? Tỉnh có phương án nào để giảm chi phí sản xuất thông qua đầu tư hạ tầng đến nơi sản xuất chưa ? vì khâu vận chuyển lớn sẽ làm tăng chi phí, và máy móc hiện đại sẽ không tham gia vào quá trình sản xuất nếu hạ tầng giao thông phục vụ cho sản xuất ko có ?

Trả lời của PGĐ Sở NN và PTNT Hồ Vang:

Về Quy hoạch đất cho phát triển nông nghiệp....

Thời gian qua, không chỉ riêng Thừa Thiên Huế mà rất nhiều địa phương khác vấn đề đầu tư bất động sản đang nóng lên với những giao dịch mua bán, chuyển đổi đất đai hết sức ồ ạt, giá cả tăng quá mức... việc lo ngại đất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp do ảnh hưởng từ vấn đề trên được rất nhiều người quan tâm.

Đối với hoạch đất nông nghiệp của Thừa Thiên Huế, theo Nghị quyết số 72/NQ-CP ngày 6/6/2018 của Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020)của tỉnh tổng diện tích đất nông nghiệp điều chỉnh đến năm 2020 như sau:

STT

Chỉ tiêu sử dụng đất

Năm 2010

Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2020

Diện tích

(ha)

Cơ cấu

(%)

Quốc gia phân bổ (ha)

Tỉnh xác định bổ sung (ha)

Tổng số

Diện tích

(ha)

Cơ cấu

(%)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)= (5)+(6)

(8)

I

Loại đất

 

 

 

 

 

 

1

Đất Nông nghiệp

382.814

76,06

382.868

3.080

385.948

78,73

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

 

 

 

 

 

 

...

....

 

 

 

 

 

 

Theo số liệu điều chỉnh quy hoạch đất nông nghiệp như trên thì tổng diện tích và cơ cấu đều tăng so với năm 2010 (Trong đó diện tích Tỉnh xác định bổ sung là 3.080 ha).

Về phát triển thương hiệu…

Cùng với các giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã và đang thực hiện, công tác xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, sản phẩm đặc sản của địa phương luôn được quan tâm hỗ trợ thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu, quảng bá sản phẩm, tham gia các hội chợ, triển lãm sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn cả nước.

Đến nay lĩnh vực nông nghiệp đã xây dựng một số thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa sản phẩm có chất lượng tham gia thị trường trong tỉnh, ngoại tỉnh qua hệ thống siêu thị, kinh doanh tiêu thụ của các doanh nghiệp, HTX,... góp phần tiêu thu nông sản cho người nông dân như: Thanh trà Huế, Tôm chua Huế, Trà rau má Quảng Thọ, Gạo ngon Thủy Thanh, Gạo ngon Phú Hồ, Gạo hữu cơ Phong Điền, Gạo hữu cơ Quế Lâm, hành lá, kiệu Hương An, Hương Chữ...

Định hướng trong thời gian tới ngành nông nghiệp tiếp tục mở rộng việc hỗ trợ triển khai các dự án xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý đối với các đặc sản, sản phẩm làng nghề, sản phẩm đặc thù của địa phương…

Hỗ trợ xây dựng kiểu dáng công nghiệp, bảo hộ thương hiệu sản phẩm;

Hỗ trợ chuẩn hóa hệ thống quy cách nhãn mác, bộ nhận diện nhãn chung cho các sản phẩm đặc sản của Huế;

Hỗ trợ thiết kế logo, nhận diện thương hiệu (nhãn hiệu, bao bì sản phẩm, kiểu dáng công nghiệp cho các sản phẩm chủ lực);

Hỗ trợ xây dựng quy chuẩn chất lượng, dán tem truy xuất nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm;

Về đầu tư hạ tầng sản xuất nông nghiệp....

Qua tổng kết 10 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn từ những kết quả đạt được đãgóp phần giảm chi phí sản xuất nhờ kết cấu hạ tầng đã được nâng lên rõ rệt, cụ thể như sau:

Trong 10 năm qua tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, trước hết đầu tư về thuỷ lợi gồm các công trình: Hồ chứa nước Tả Trạch; các công trình thuỷ lợi thuộc dự án Tây nam Hương Trà; dự án xây dựng hồ chứa nước Thuỷ Yên, Thuỷ Cam. Hệ thống tưới tiêu cho vùng cát các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, nâng cấp các hồ chứa, xây dựng các trạm bơm công suất lớn, kiên cố hóa 410 km kênh mương. Các công trình nêu trên, đã đưa vào vận hành, phát huy tác dụng, nâng diện tích đất nông nghiệp được tưới từ 70% năm 2008 lên 95% năm 2017; diện tích đất nông nghiệp được tiêu từ 37% năm 2008 lên 41% năm 2017.

Từ năm 2009 đến năm 2017 tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn khu vực nông thôn là 7.516 tỷ đồng; tập trung chủ yếu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo tiêu chí nông thôn mới. Chương trình nông thôn mới bắt đầu triển khai từ năm 2010, tuy nguồn vốn của Chương trình Trung ương bố trí còn thấp; song địa phương đã lồng ghép được 1.072 tỷ đồng thực hiện theo các tiêu chí nông thôn mới xây dựng các công trình thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất, dân sinh kinh tế - xã hội như: giao thông nông thôn, thủy lợi, trường học, y tế, văn hóa,góp phần quan trọng phát triển kinh tế - văn hóa xã hội của địa phương.

Hệ thống giao thông: Các công trình giao thông nông thôn được đầu tư kiên cố hóa, hoàn thành một số tuyến giao thông quan trọng phá thế chia cắt ở vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai như: Xây mới Cầu Tam Giang, tuyến Phong Điền - Điền Lộc, Thuỷ Phù - Vinh Thanh; nâng cấp Tỉnh lộ 4, Tỉnh lộ 10 C, D. Giao thông nông thôn đã được cải thiện đáng kể. Từ 2010 đến 2017 đã đầu tư xây mới và nâng cấp mở rộng hơn 1.200 km đường giao thông nông thôn. Các tuyến đường trục xã, liên xã được trải nhựa hoặc bê tông,đến nay toàn tỉnh đã có 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã. Tuy nhiên, các xã vùng đồng bằng, ven biển hệ thống giao thông nội đồng chưa phát triển, nên huy động nguồn lực thực hiện đang là một thách thức lớn của nhiều địa phương.

Câu hỏi của bạn Thanh Pham, Address 6 Peveril Close Kings Park VIC 3021 461 Somerville Road Brooklyn 3012 - billbinhire.com.au - Phone: 0401336010: Tôi rất muốn đầu tư vào nông nghiệp quy mô lớn ở TT Huế vào những vùng đất trống đồi trọc để phủ xanh và không đụng chạm đến cấu trúc sử dụng đất hiện tại. Tôi có và câu hỏi tôi thắc mắc là, thời hạn thuê đất dài nhất là bao lâu? Sau thời gian miễn giảm tiền thuê đất thì giá thuê đất là bao nhiêu? và căn cứ vào đâu để dự đoán tiền thuê đất sau thời gian miễn giảm? Quyền kéo dài thời hạn thuê đất? Hướng giải quết như thế nào với với tài sản trên đất khi có quyết định thu hồi đất? Kính mong sự hồi đáp của quý anh chị để cho tôi có cơ hội đóng góp vào sự phát triển của Huế.

 

Trả lời của PGĐ Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

1. Về thời hạn thuê đất: Tại Điều 126 Luật Đất đai quy định

- Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất.

- Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm.

Đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất không quá 70 năm.

2. Quyền kéo dài thời hạn thuê đất: tại Khoản 3, Điều 126 luật đất đai quy định:

- Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản này.

3. Miễn giảm tiền thuê đất và dự đoán tiền thuê đất sau thời gian miễn, giảm:

Nhà nước cho thuê đất gồm 02 trường hợp: Thuê đất trả tiền hàng năm và trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, với mỗi trường hợp thì có cách tính khác nhau theo hướng dẫn cách tính tiền thuê đất.

a) Thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm
 Theo khoản 1 Điều 12 
Nghị định 46/2014/NĐ-CP thì tiền thuê đất mà người thuê phải trả được tính theo công thức sau:

Tiền thuê đất phải nộp = (Diện tích phải nộp tiền thuê)   x   (Đơn giá thuê đất)

Trong đó, đơn giá thuê đất được xác định theo từng trường hợp cụ thể:

Trường hợp 1 - Không qua đấu giá

Đơn giá thuê đất hàng năm = 1% x Giá đất tính thu tiền thuê đất.

+ Giá đất để tính thu tiền thuê đất là giá đất cụ thể.

Lưu ý: Tỷ lệ % để tính đơn giá thuê đất có thể dao động từ 0,5 - 3,0 % tùy vào từng khu vực, từng loại đất cho thuê và điều kiện thực tế của địa phương theo quyết định của UBND cấp tỉnh.

Trường hợp 2 - Thuê đất thông qua đấu giá

Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 46/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 135/2016/NĐ-CP) giá thuê đất trong trường hợp thuế đất thông qua đấu giá được tính như sau:

- Đơn giá thuê đất là đơn giá trúng đấu giá của thời hạn một năm.

- Đơn giá trúng đấu giá được ổn định 10 năm, hết thời gian ổn định thực hiện điều chỉnh nhưng mức điều chỉnh không vượt quá 30% đơn giá thuê đất trúng đấu giá hoặc đơn giá thuê đất của kỳ ổn định liền kề trước đó.

Trường hợp 3 - Thuê đất xây dựng công trình ngầm

- Nhà nước cho thuê để xây dựng công trình ngầm nhưng không phải là phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất.

- Đơn giá thuê đất không quá 30% đơn giá thuê đất trên bề mặt với hình thức thuê đất trả tiền, thuê đất hàng năm có cùng mục đích sử dụng. Đơn giá thuê đất này ổn định trong 05 năm.

Trường hợp 4 - Thuê đất có mặt nước

Đơn giá thuê đất có mặt nước được xác định theo 02 phần:

- Đối với phần diện tích đất không có mặt nước: Đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được xác định như trường hợp 1 - Không qua đấu giá cho thuê đất nêu ở phần trên.

- Đối với phần diện tích đất có mặt nước: Đơn giá thuê đất hàng năm không thấp hơn 50% đơn giá thuê đất hàng năm của loại đất có vị trí liền kề có cùng mục đích sử dụng. 

b) Thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
 Theo điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định 46/2014/NĐ-CP thuê đất trả tiền một lần trong cả thời gian thuê được xác định theo 02 trường hợp:

*.  Trường hợp 1: Thuê đất không mặt nước

Tiền thuê đất phải nộp =  (Diện tích phải nộp tiền thuê)   x    (Đơn giá thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê)
             Trong đó,

          1 - Không thông qua đấu giá

Đơn giá thuê đất thu một lần cho cả thời gian thuê là giá đất cụ thể được xác định theo từng loại đất.

2 - Thuê đất thông qua đấu giá

Đơn giá thuê đất là đơn giá trúng đấu giá của thời hạn thuê đất.

3 - Đất xây dựng công trình ngầm

Đơn giá thuê đất trả một lần cho cả thời gian thuê không quá 30% đơn giá thuê đất trên bề mặt với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có cùng mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất.
         *)  Trường hợp 2: Thuê đất có mặt nước

Tiền thuê đất phải nộp = (Diện tích phải nộp tiền thuê) x (Đơn giá thuê đất có mặt nước thu một lần cho cả thời gian thuê)
           - Đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê không thấp hơn 50% đơn giá thuê đất hàng năm của loại đất có vị trí liền kề có cùng mục đích sử dụng.

- Mức thu do UBND cấp tỉnh quyết định sau khi Sở Tài chính phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và trình lên.

Như vậy, giá thuê đất có mặt nước thu một lần cho cả thời gian thuê thì do UBND từng tỉnh quy định.

c) Số tiền thực nộp phải nộp sau khi được miễn giảm tiền thuê đất:

Tại Điều 4 của Nghị định 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ quy định:

Số tiền sử dụng đất phải nộp = (Giá tính tiền sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất) x (Diện tích đất phải nộp tiền sử dụng đất) – (Tiền sử dụng đất được giảm tại Điều 19 Nghi định 46 ngày 15/5/2014) – ( Tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng được khấu trừ vào tiền sử dụng đất (nếu có)).

4. Giải quyết tài sản trên đất khi có quyết định thu hồi đất: Tại Nghi định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của chính phủ quy định:

“Điều 15b. Thu hồi đất đối với trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư

Việc thu hồi đất đối với trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và khoản 1 Điều 65 của Luật đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê thì xử lý thu hồi đất như sau:

a) Chủ đầu tư được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư;

b) Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật.

Khi hết thời hạn 24 tháng được gia hạn tiến độ sử dụng đất mà chủ đầu tư không thực hiện được việc chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp của mình gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai.

2. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm thì xử lý thu hồi đất theo quy định sau đây:

a) Chủ đầu tư được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư;

b) Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật.

Nhà nước thu hồi đất của người bán tài sản gắn liền với đất thuê để cho người mua tài sản thuê;

c) Khi hết thời hạn 24 tháng được gia hạn tiến độ sử dụng đất mà chủ đầu tư không thực hiện được việc bán tài sản hợp pháp của mình gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai.”

 

Câu hỏi của bạn thanhnhan9x@gmail.com, thanhnhan9x@gmail.com: Những nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp phải thực hiện nào mà UBND tỉnh đang đặt ra hiện nay để tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà theo hướng nâng cao giá trị?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang


UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21/4/2016 Về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2016 – 2020; 
nội dung và các giải pháplà:

Nội dung:

1.Tái cơ cấu trong các lĩnh vực:

a)Nông nghiệp

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị gắn với thị trường trên cơ sở phát huy lợi thế của vùng. Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Đến năm 2020 ổn định diện tích gieo trồng lúa nước 52.000 ha/năm (lúa chất lượng đạt trên 17.000ha); Thanh trà đạt 1.000ha; Sắn công nghiệp 7.500-8.000 ha (hiện tại 6.500 ha sẻ tăng ở huyện A Lưới 1.500 ha); Cao su khoảng13.500ha; Rau, củ, quả an toàn đạt 600ha; Lạc trên 3.600 ha; Ngô đạt 2.500 ha.

- Tái cơ cấu chăn nuôi theo hướng chú trọng phát triển vật nuôi có tiềm năng và lợi thế, tăng nhanh số lượng và chất lượng đàn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả để tăng sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của thị trường; tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị thông qua việc liên kết sản xuất, đảm bảo mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho người chăn nuôi và người tiêu dùng, phát triển chăn nuôi trang trại, công nghiệp.

- Phấn đấu đến năm 2020, đàn trâu 23.460 con, đàn bò 30.000 con, đàn lợn 296.000 con, đàn gia cầm 3,3 triệu con và sản lượng thịt hơi đạt 45.000 tấn/năm (tăng 45% so với năm 2015). Trong đó sản lượng thịt hơi của vật nuôi chủ lực: 43.500 tấn; chiếm 96,8% tổng sản lượng thịt hơi toàn tỉnh. Ong nuôi 5.500 đàn, sản lượng mật ong ước đạt 200 tấn.

b. Lâm nghiệp

Phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh; Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; Góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững. Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường gắn với tái cơ cấu ngành nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập; tăng cường liên kết tiêu thụ lâm sản giữa doanh nghiệp với nông dân.

Củng cố diện tích rừng đặc dụng hiện có; bố trí rừng phòng hộ ở những nơi xung yếu, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ chắn sóng, chắn gió cát ven biển và đầm phá; ưu tiên mở rộng diện tích rừng sản xuất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế; chú trọng công tác giống, đầu tư thâm canh, trồng rừng gỗ lớn để từng bước thay thế dần gỗ rừng tự nhiên phục vụ nhu cầu dân dụng và cung ứng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ. Diện tích đất có rừng toàn tỉnh đến năm 2020 đạt 293.250 ha, trong đó: diện tích rừng sản xuất 122.100 ha.

c. Thủy sản

- Ổn định diện tích nuôi ao hồ hiện có (2.100 ha), phát triển nuôi cá hồ thủy lợi, thủy điện, hồ chứa tự nhiên khoảng 500 - 800 ha, nuôi lồng từ 500 - 1.000 lồng năm 2020.

-Tiếp tục phát triển nuôi trồng các đối tượng thủy sản tạo sản phẩm chủ lực theo nhu cầu của thị trường, phù hợp với điều kiện của từng vùng sinh thái. Tăng cường ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, phát triển các mô hình, phương thức nuôi mới nhằm nâng hiệu quả trong nuôi trồng.

- Phát triển vùng nuôi tôm trên cát lấy tôm thẻ chân trắng là đối tượng sản xuất chủ lực để phục vụ xuất khẩu. Từng bước mở rộng diện tích đạt 900 ha vào năm 2020 với sản lượng nuôi khoảng 13.500 tấn.

- Phát triển khai thác hải sản xa bờ; có hầm bảo quản tiên tiến, hiện đại và có đầy đủ trang bị kết nối định vị vệ tinh; phát triển tàu cá vỏ thép, vỏ vật liệu mới composite… thay thế từng bước tàu cá vỏ gỗ; Tỷ trọng sản lượng hải sản khai thác xa bờ đạt trên 70%.

- Củng cố và phát triển mô hình Đồng quản lý nghề cá trên vùng đầm phá, vùng biển ven bờ, tiến đến quản lý ngư cụ theo hạn ngạch thông qua trao quyền khai thác cho các tổ chức ngư dân.

- Đội tàu dịch vụ khai thác hải sản xa bờ từ 90 CV trở lên được trang bị hầm bảo quản sản phẩm hiện đại, phấn đấu giảm tổn thất sau thu hoạch khai thác hải sản từ 30% hiện nay, xuống dưới 15%; Tiếp tục duy trì và phát huy đội tàu dịch vụ thu mua trên biển và phát triển tàu dịch vụ hậu cần vỏ thép quy mô lớn (30 mét trở lên).

d. Thủy lợi

- Củng cố, phát triển thủy lợi nội đồng, gắn với xây dựng nông thôn mới: Nâng cấp kết cấu hạ tầng thủy lợi nội đồng, đáp ứng tốt các phương thức canh tác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; củng cố tổ chức thủy nông cơ sở bền vững.

- Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi, nâng cao hiệu quả quản lý, Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho các cây trồng cạn chủ lực: Hồ tiêu, cây ăn quả, rau, hoa, ...

2. Tái cơ cấu sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực

- Ưu tiên cao, tập trung phát triển mạnh các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực có lợi thế: Lợn, tôm, rau, hoa các loại.

- Cơ cấu hợp lý các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa khácLúa, lạc, sắn công nghiệp, cao su, gỗ nguyên liệu rừng trồng, bò và gia cầm.

3. Phát triển công nghiệp chế biến và ngành nghề nông thôn

Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GHP, GMP, HACCP, ISO,…) tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Phấn đấu đến năm 2020, đạt tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trên 150 triệu USD. Trong đó:

4. Phát triển ngành nghề nông thôn

Tiếp tục phát triển các làng nghề có khả năng lan tỏa, hoạt động tốt; khôi phục và bảo tồn các làng nghề truyền thống đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền; bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống vùng đồng bào dân tộc; đến năm 2020 có thêm 15 - 25 nghề và làng nghề được công nhận nghề, làng nghề và làng nghề truyền thống. Gắn kết chương trình phát triển làng nghề với chương trình phát triển du lịch.

Củng cố và nâng cao năng lực hoạt động các HTX nông nghiệp hiện có, hình thành các tổ chức hợp tác mới theo Luật HTX năm 2012  phù hợp với yêu cầu phát triển của địa phương và xây dựng mô hình liên kết “4 nhà” nhằm đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho hộ nông dân để nâng cao hiệu quả sản xuất.

5. Xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn

Tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng như: Hệ thống giao thông nội đồng kết hợp thủy lợi, giao thông đến vùng sản xuất, hệ thống đường lâm sinh, hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản tập trung, khai thác hải sản và hậu cần nghề cá.

Các giải pháp:

1. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, lựa chọn một số sản phẩm chính có lợi thế để lập dự án làm cơ sở đầu tư phát triển; tăng cường quản lý giám sát, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch

- Tổ chức triển khai có hiệu quả và rà soát, bổ sung các quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được phê duyệt.

- Trên cơ sở tiềm năng, thế  mạnh của địa phương, mỗi huyện lựa chọn ra từ 3 - 4 cây con chủ lực, mỗi xã lựa chọn 2 - 3 cây con chủ lực để ưu tiên phát triển. Trên cơ sở sản phẩm chủ lực được lựa chọn, xây dựng chính sách và các giải pháp đồng bộ để triển khai thực hiện hiệu quả.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.

2. Gắn tái cơ cấu ngành với đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Phấn đấu đến năm 2020 có trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Trong đó tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Ban hành cơ chế, chính sách, làm tốt công tác lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

- Chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị.

- Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống địa phương,... nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở; Tăng cường đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn.

3. Khuyến khích, thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư công

- Tập trung huy động và thực hiện đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Rà soát, phân loại các dự án đầu tư, điều chỉnh phương thức và nguồn đầu tư để thu hút tối đa nguồn lực đầu tư xã hội vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

- Tiếp tục vận động, thu hút đầu tư từ ngân sách, từ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ODA,..), tăng hợp lý tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách tỉnh, dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2016-2020 cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, phục vụ cho sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu là 6.800 tỷ đồng.

4. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo nghề

- Nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi các quy trình, kỹ thuật tiên tiến, đẩy mạnh đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.

- Tập trung đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất giống.

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng lực và chất lượng chế biến nông lâm thủy sản.

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

5. Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và quản lý chất lượng sản phẩm nâng cao giá trị gia tăng

- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, xúc tiến thương mại gắn với từng sản phẩm hàng hoá.

- Hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông sản như: Lúa, rau, bưởi thanh trà, hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre đan,…),…

- Tăng cường công tác quản lý kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm nông sản; Khuyến khích nhân rộng mô hình kiểm soát, quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi, áp dụng triệt để các tiêu chuẩn VietGAP, ISO, HACCP,…

6. Củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ trong nông nghiệp, nông thôn

- Khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn đối với một số sản phẩm có giá trị hàng hóa cao là lợi thế của tỉnh; Tăng cường sự tham gia và trách nhiệm của các bên liên quan đối với mối liên kết của “4 nhà”.

- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành theo hướng cổ phần hóa; Củng cố và phát triển kinh tế hợp tác.

- Đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh tế trang trại, gia trại theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao.

- Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, đổi mới và phát triển mạnh hệ thống dịch vụ theo chuỗi giá trị sản phẩm. Củng cố và phát triển các tổ chức dịch vụ nông nghiệp: Cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, thu hoạch, tiêu thụ và chế biến sản phẩm nông lâm thủy sản; Đẩy mạnh phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá. Khuyến khích đầu tư máy móc, thiết bị cơ giới trong tổ chức dịch vụ nông nghiệp nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch.

7. Cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước

- Đẩy mạnh cải cách hành chính với nội dung trọng tâm là: Sắp xếp, tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn từ tỉnh đến cơ sở, đảm bảo đủ năng lực quản lý ở các cấp, đặc biệt ở cấp xã.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức quản lý nhà nước ở các cấp.

- Tăng cường năng lực cho hệ thống kiểm tra, kiểm nghiệm, thanh tra chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng và nâng cao chất lượng, giá trị hàng hoá.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, dự tính, dự báo tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi để kịp thời tổ chức phòng, chống, dập dịch, đảm bảo an toàn cho sản xuất.

Bắt đầu đối thoại
Câu hỏi của bạn Phan Việt, Thuận Thành, Huế: Xin cho biết một số thành tựu nổi bật của tỉnh sau gần 9 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Sau gần 9 năm (2010-2019) thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới,nhờ sự chỉ đạo sâu sát của Trung ương, sự vào cuộc quyết liệt của hệ thống chính trị các cấp và nỗ lực của người dân, Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được những kết quả tích cực, bộ mặt nông thôn đã có khởi sắc, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được đầu tư cơ bản đồng bộ, đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng nông thôn đã từng bước được cải thiện. Có thể tóm tắt một số kết quả nổi bật như sau:

1. Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và nhân dân về xây dựng nông thôn mới đã có những chuyển biến khá sâu sắc và rõ nét.

2. Hạ tầng nông thôn đã được tăng cường đầu tư, diện mạo nông thôn có bước khởi sắc; toàn tỉnh đã huy động được một nguồn lực khá lớn với 11.100 tỷ đồng. Trong 9 năm, toàn  tỉnh đã xây dựng mới và nâng cấp 120 công trình giao thông nông thôn, 31 công thủy lợi, 179 công trình trường học, 55 công trình nhà văn hóa trung tâm xã, 22 công trình nước sạch,…; Hỗ trợ 641 mô hình phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập, giảm nghèo cho người dân.

3. Đời sống của nhân dân vùng nông thôn từng bước được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn toàn tỉnh năm 2018 đạt 31,4 triệu đồng/người/năm, bằng gấp 2,5 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn 7,25%, giảm hơn 50% so với năm 2010. Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 98,82%; Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đạt 80%, nước hợp vệ sinh đạt 99%; tỷ lệ chất thải rắn được thu gom khu vực nông thôn đạt 65%; …

4.  Về thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Chương trình, đến nay số tiêu chí bình quân toàn tỉnh đạt 16,2 tiêu chí/ xã (cao hơn 01 tiêu chí so với bình quân chung cả nước), đã có 44/104 xã đạt 19/19 tiêu chí (42%); 27 xã đạt từ 15-18 tiêu chí; 32 xã đạt từ 10-14 tiêu chí; 01 xã đạt 9 tiêu chí. Không còn xã dưới 9 tiêu chí.Toàn tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2019 có 54 xã đạt chuẩn (52%) để làm tiền đề đạt mục tiêu 59% số xã đạt chuẩn cuối năm 2020.

Mặt khác, đối với các xã đã đạt chuẩn, Tỉnh đã chỉ đạo tiếp tục thực hiện xây dựng để đạt xã nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu. Phấn đấu cuối năm 2020 toàn tỉnh có 02 xã nông thôn mới kiểu mẫu và mỗi huyện có ít nhất 01 xã nâng cao.

Đối với cấp huyện, thị xã Hương Thủy phấn đấu cuối năm 2019 hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, huyện Quảng Điền phấn đấu trở thành huyện nông thôn mới vào năm 2020.

Với những thành tích đó, tính đến nay,Chính phủ đã tặng cờ thi đua cho 01 huyện (Nam Đông) và Thủ tướng đã tặng bằng khen cho 5 xã điển hình: Phong Hải (Phong Điền), Hương Giang, Hương Hoà (Nam Đông), Phú Thượng (Phú Vang) và Nhâm (A Lưới)

· Về những khó khăn, hạn chế trong thực hiện Chương trình

Cũng như tình trạng chung của nhiều địa phương khác, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một Chương trình phát triển kinh tế xã hội có tính tổng hợp, có quy mô rộng lớn nên không khỏi có nhiều khó khăn, hạn chế trong thực hiện Chương trình, cụ thể:

1) Nhận thức về thực hiện Chương trình chưa thực sự đúng đắn, còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước ở một số bộ phận dân cư, kể cả ở một số cán bộ các cấp.

2) Chất lượng quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã chưa cao, chưa đề ra được các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, nhất là đối với phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập,  xóa đói giảm nghèo.

3)  Huy động nguồn lực ngoài ngân sách tham gia Chương trình còn hạn chế, huy động từ người dân gặp nhiều khó khăn do mức sống của người dân thấp, nhất là những thôn bản, xã ở miền núi, vùng sâu vùng xa.

4) Sản xuất nông nghiệp một số nơi, nhất là vùng sâu vùng xa, miền núi, bãi ngang vẫn mang tính truyền thống là chính, vì vậy hiệu quả và thu nhập còn thấp, không ổn định. Số mô hình ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao có hiệu quả cao chưa nhiều.

5) Chất lượng đào tạo nghề cho nông dân, lao động nông thôn cũng như việc sử dụng lao động tại chỗ sau đào tạo nghề vẫn là vấn đề khó của nhiều địa phương.

6) Năng lực cán bộ cấp xã, thôn ở nhiều địa phương còn rất hạn chế (nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số). Bộ máy giúp việc cho Ban Chỉ đạo các cấp còn thiếu và yếu, nhất là cấp huyện và xã, riêng cấp xã, hầu hết chưa bố trí công chức cấp xã chuyên trách có năng lực theo dõi nông nghiệp và xây dựng NTM theo quy định.

7) Nguồn lực hỗ trợ từ TW và từ Tỉnh còn hạn chế so với nhu cầu thực hiện mục tiêu kế hoạch; quy trình, thủ tục còn nhiều vướng mắc, không thực sự phù hợp với điều kiện của một số địa phương, nhất là vùng khó khăn, miền núi…

Với những thuận lợi và khó khăn nói trên, Tỉnh sẽ có những  chỉ đạo các ban ngành địa phương có kế hoạch, giải pháp phù hợp để tiếp tục triển khai có hiệu quả khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới.

_________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Huỳnh Văn Quang, thành phố Huế: Xu thế tái cơ cấu ngành nông nghiệp của nước ta hiện nay là đổi mới tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác với doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt. Tuy nhiên thực tế ở tỉnh ta hiện nay thì việc kết nối giữa doanh nghiệp với HTX, với bà con nông dân vẫn chưa thật hiệu quả. Vậy xin hỏi tỉnh đã có những định hướng, giải pháp, cơ chế gì để tạo ra sự liện kết giữa người dân và doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho người dân khi tham gia sản xuất.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Một trong những giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh là đổi mới tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác với doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt. Tạo môi trường thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tham gia liên kết theo chuỗi giá trị.

Ngoài ra, sau khi Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có hiệu lực, UBND tỉnh đã có chủ trương và chỉ đạo các Sở Nông nghiệp-PTNT, KHĐT, Tài chính kể từ năm 2019 thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới sẽ ưu tiên bố trí cho các huyện, thị xã có các dự án liên doanh, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị triển khai trên địa bàn các xã hoặc liên xã, liên huyện.

Đối với các xã trong lúc chưa đề xuất được các dự án PTSX liên kết theo chuỗi giá trị, để có cơ sở đề xuất các dự án (mô hình) hỗ trợ PTSX, xã cần phải xây dựng đề án PTSX của xã được UBND huyện, thị xã phê duyệt.

Đề án PTSX của xã phải trên cơ sở đề án, kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp địa phương; phải xác định được sản phẩm chủ lực trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của địa phương; sản phẩm chủ lực phải hướng đến sản xuất hàng hóa, thực hiện Chương trình mỗi xã mỗi sản phẩm (OCOP).

Câu hỏi của bạn phamminhthai09@gmail.com, phamminhthai09@gmail.com:

Chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh trong thời gian tới sẽ tập trung vào những mục tiêu cũng như giải pháp cụ thể nào?

Trả lời của PGĐ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Trong 02 năm cuối của giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung nổ lực để hoàn thành mục tiêu và  nhiệm vụ theo Kế hoạch đề ra trong giai đoạn 2016-2020 của tỉnh, đó là: Toàn tỉnh có ít nhất 61/104 xã (đạt 59%), 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; 02 xã NTM kiểu mẫu, mỗi huyện có ít nhất 01 xã NTM nâng cao.

Trong năm 2019, phấn đấu tăng ít nhất 10 xã, nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM toàn tỉnh lên 54 xã,  (tỷ lệ 51,9%).Thị xã Hương Thủy hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Hai huyện Quảng Điền và Nam Đông có 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đối với các xã còn lại, phấn đấu số tiêu chí đạt chuẩn bình quân tăng 0,5 tiêu chí/xã/năm.

Duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đối với các xã đã đạt chuẩn, phấn đấu có 01-02 xã đạt xã nông thôn mới nâng cao để hướng đến xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu. Ngoài ra, kịp thời triển khai mô hình thôn kiểu mẫu, vườn mẫu; Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); xây dựng NTM thôn bản vùng khó khăn;…

Hiện toàn tỉnh đã có 44 xã NTM, năm 2019 phấn đấu tăng 10-14 xã, năm 2020 thêm 07 xã. Danh sách các xã phấn đấu về đích năm 2019 gồm có: Quảng Thành, Quảng An, Quảng Lợi (huyện Quảng Điền), Thượng Lộ, Thượng Nhật, (huyện Nam Đông), Phong Thu, Phong Mỹ, Điền Hòa (huyện Phong Điền), Lộc Hòa, Vinh Mỹ (huyện Phú Lộc), Hương Thọ, Hương Phong (thị xã Hương Trà), Thủy Vân, (thị xã Hương Thủy), Vinh Thanh, Phú Dương, Phú Thanh (huyện Phú Vang), Nhâm (huyện A Lưới).

1)  Về giải pháp chung:

- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc tinh thần chỉ đạo tại Kết luận số 77/ KL-TU ngày 31/10/2017 của Tỉnh ủy và Chỉ thị 01/CT-UBND ngày 05/01/2018 của UBND tỉnh về tăng cường chỉ đạo triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, Kế hoạch số 49/KH-UBND ngày 12/3/2019 triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2019; Kế hoạch số 78/KH-UBND ngày 09/4/2019 về việc tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2010-2020.

- Tiếp tục huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị tham gia vào Chương trình; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể nhân dân các cấp để thực hiện Chương trình bảo đảm mục tiêu và hiệu quả cao; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp; tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc tham gia thực hiện Chương trình.

2)  Giải pháp cụ thể:

- Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cụ thể đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn cuối năm 2019.

- Khẩn trương thực hiện hoàn thành các dự án cấp nước sạch cho các địa phương (xã Phú Sơn, thị xã Hương Thủy; 5 xã vùng trên của huyện Nam Đông; xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền). Đôn đốc chỉ đạo xã Thủy Vân sớm hoàn thiện hồ sơ đạt chuẩn NTM năm 2019 và thị xã Hương Thủy hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM năm 2019.

- Triển khai xây dựng NTM ở các thôn của các xã đặc biệt khó khăn huyện A Lưới theo Quyết định 1385/QĐ-TTg ngày 21/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo xây dựng NTM và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018 - 2020, phấn đấu đến năm 2020 có 50% số thôn trong phạm vi đề án hoàn thành tiêu chí thôn NTM.

-  Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TU, ngày 13/3/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy "Về việc mở cuộc vận động toàn dân xây dựng Thừa Thiên Huế sáng, xanh, sạch, đẹp, không rác thải"; các Phong trào “Ngày chủ nhật xanh”, "Nhặt một cọng rác, bạn đã làm Huế sạch hơn", “Nói không với túi ni-lông”, “Chống rác thải nhựa”,…Thực hiện đề án thí điểm xây dựng mô hình thu gom, xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn huyện Quảng Điền (Đề án 712 của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình OCOP...

- Chỉ đạo các địa phương hoàn thành việc tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Hoàn thành hồ sơ thi đua khen thưởng phục vụ cho công tác tổng kết.

_______________________________________________________

Câu hỏi của bạn Nguyễn Thu Thủy, Huế: Theo tôi nhận thấy, sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế phát triển của các địa phương trong tỉnh, lãnh đạo tỉnh có giải pháp gì để giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp

Trả lời của PGĐ Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. UBND tỉnh đã ban hành một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

- Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21/4/2016 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 của UBND tỉnh về một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 – 2020.

- Quyết định số 52/2018/QĐ-UBND ngày 27/9/2018 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc Ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 

- Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 25/9/2018 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Về việc ban hành Bộ tiêu chí, cách thức lựa chọn sản phẩm chủ lực địa phương và khung giải pháp hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Quyết định số 1162/QĐ-UBND ngày 13/5/2019 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc  Ban hành danh mục sản phẩm chủ lực tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2019-2020 và giải pháp hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Quyết định số 735/QĐ-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2019 của UBND tỉnh về việc Ban hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ, trong đó có nội dung sẽ tiếp tục hoàn chỉnh bổ sung chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

- Thực hiện tốt các giải pháp nhằm tích tụ, tập trung đất đai tạo quỹ đất kêu gọi doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Xây dựng quy hoạch phát triển vùng sản xuất trồng trọt  tập trung, thu hút những dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch.

- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

- Tăng cường công tác đào tạo nghề theo nhu cầu của người sử dụng lao động, gắn đào tạo với địa chỉ sử dụng lao động cụ thể ( doanh nghiệp, Hợp tác xã, cơ sở kinh doanh), gắn với định hướng phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương gắn với kỹ năng và kinh nghiệm của các làng nghề.

- Hàng năm tổ chức Hội nghị hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn.

_______________________________________________________________

Câu hỏi của bạn huynhphuoc_1977@gmail.com, huynhphuoc_1977@gmail.com:

Chương trình cho tôi hỏi, hiện nay, tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh ta đang ở giai đoạn nào và chúng ta đã có những giải pháp nào để nâng cao giá trị kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, hướng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng toàn diện, hiện đại và bền vững.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21/4/2016 về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2016 - 2020.

Đến nay, việc thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới của tỉnh đang ở năm thứ 4 của giai đoạn 2016-2020 và đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Trước hết, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, huy động được nội lực để xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường,... Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2018 theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế đạt 31,4 triệu đồng tăng 1,87 lần so với năm 2013.


Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Các giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được triển khai trong thời gian qua

1. Về đổi mới cơ chế chính sách.

Tỉnh đã xây dựng kế hoạch  với các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ như: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; hướng dẫn thực hiện chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị; xây dựng cánh đồng lớn; chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ...Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã ban hành chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016).

2. Về đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ; phát triển ngành nghề nông thôn và các hình thức kinh tế hợp tác.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong nông nghiệp. Đi cùng đó là đẩy mạnh chuyển đổi HTX theo Luật HTX năm 2012, tính đến nay toàn tỉnh có 182 HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2012. Tiếp tục triển khai đề án “Đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp theo kiểu mới giai đoạn 2018-2020”, phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh có 205 HTX Nông nghiệp hoạt động có hiệu quả.

3. Nâng cao chất lượng đầu tư công, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.

4. Công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và khuyến nông.

Các hoạt động chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khuyến nông, khuyến lâm tiếp tục được đẩy mạnh, từng bước ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất các sản phẩm nông nghiệp theo quy mô lớn, có giá trị kinh tế cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Công tác xây dựng mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân đã được triển khai thực hiện hầu khắp trên các vùng, miền của các địa phương. Sự thành công của các mô hình đã giúp người dân cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập, tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.

5. Kết nối thị trường, tổ chức tiêu thụ sản phẩm.

Đã tăng cường công tác quản lý, đẩy mạnh sản xuất sản phẩm an toàn, chất lượng. Thực hiện tốt công tác xúc tiến thương mại và kết nối tiêu thụ sản phẩm; đã xây dựng 10 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, được xác nhận với 15 sản phẩm (Gạo, thịt heo, thịt gà, trứng gà, chuối và rau ăn lá các loại,...). Cùng với đó, các cấp, ngành đã tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người sản xuất trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

____________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Hà Mộng Ngọc, hamongngoc@gmail.com: Mục tiêu hướng đến của việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh là gì?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

* Mục tiêu hướng đến của tái cơ cấu nông nghiệp tỉnh là:

- Phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện gắn với xây dựng nông thôn mới trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế về nông nghiệp của tỉnh.

- Duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng nội tại và đẩy mạnh xuất khẩu.

- Nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực cả trước mắt và lâu dài, góp phần xóa đói, giảm nghèo.

- Sử dụng hợp lý và tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu các tác động tiêu cực khác đối với môi trường, nâng cao năng lực quản lý rủi ro, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh


 Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

___________________________________________________

Câu hỏi của bạn Trần Tuấn Anh, TP Huế:

Những định hướng của tỉnh trong tái cơ cấu nông nghiệp?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

* Những định hướng của tỉnh trong tái cơ cấu nông nghiệp là:

UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21/4/2016 Về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững,  giai đoạn 2016 - 2020; theo đó, định hướng chung là:
- Tập trung phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của tỉnh gắn với khai thác lợi thế so sánh theo 3 vùng sinh thái:
+ Vùng gò đồi, miền núi: Tập trung các sản phẩm chủ lực: Gỗ nguyên liệu rừng trồng, cây công nghiệp dài ngày, cây dược liệu, chăn nuôi bò.
+ Vùng đồng bằng: Lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, chăn nuôi lợn và gia cầm.
+ Vùng ven biển: Nuôi tôm, các loại thủy sản có giá trị kinh tế, rau, cây công nghiệp ngắn ngày.
- Tái cơ cấu gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực, nâng cao giá trị gia tăng. Ưu tiên hướng vào phát triển hình thức tổ chức sản xuất vừa tập trung, vừa phân tán; đa dạng các loại hình liên kết, bảo đảm sản phẩm của hộ nông dân, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất ra đều gắn kết chặt chẽ với các cơ sở thu mua, bảo quản, chế biến nông sản, các doanh nghiệp lớn, với thị trường. Mỗi sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực hình thành ít nhất một doanh nghiệp mạnh giữ vai trò “đầu kéo”, tạo chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm, từ “sản xuất đến bàn ăn”.
- Xác định khoa học công nghệ là động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, vệ sinh an toàn thực phẩm, sức cạnh tranh của sản phẩm, bảo vệ môi trường, xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại và phát triển bền vững. 

_________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Hà Văn Thái, Phú Diên, Phú Vang:

Xin hỏi chính sách khuyến khích, phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh cụ thể như thế nào?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 về một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 - 2020. Một số nội dung hỗ trợ cụ thể:

1. Hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình

- Dự án đầu tư cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao được hỗ trợ 50 % chi phí đầu tư xây dựng công trình và mua sắm thiết bị; tối đa không quá 500 triệu hoặc 1 tỷ đồng tùy theo các loại hình sản xuất nông nghiệp. 

- Dự án đầu tư cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung: Được hỗ trợ từ 80 triệu đến 1 tỷ đồng tùy theo quy mô, công suất giết mổ.

- Dự án đầu tư cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá đánh bắt xa bờ được hỗ trợ từ 250 - 500 triệu đồng.

- Ngoài ra còn hỗ trợ đường giao thông, hệ thống điện, cấp nước đến hàng rào dự án (Các dự án chưa có các hạng mục này).

Lưu ý: Các dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển của địa phương nơi dự án đầu tư.

2.  Hỗ trợ sản xuất

- Hỗ trợ Dự án chuyển đổi đất lúa thiếu nước, hiệu quả thấp sang trồng các cây khác phù hợp, hiệu quả hơn.

- Hỗ trợ phát triển cây ăn quả đặc sản, cây ăn quả lâu năm mới: Dự án phát triển cây ăn quả đặc sản, cây ăn quả lâu năm mới.

- Hỗ trợ các hộ gia đình có nhu cầu vay vốn ngân hàng để mua và nuôi bò cái lai sinh sản.

- Hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn, trồng cây bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng

- Hỗ trợ trồng cây dược liệu. 

Ngoài ra còn có nội dung hỗ trợ hộ gia đình, cá nhân, nhóm hộ thực hiện các mô hình, dự án phát triển sản xuất thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

---------------------------------------------------

 [1] - Dự án đầu tư cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có quy mô từ 500 m² trở lên (đối với trồng trọt);­ 2.000 m² (đối với nuôi trồng thủy sản); được hỗ trợ 50% chi phí nhưng không quá 500 triệu đồng/cơ sở.

- Dự án đầu tư cơ sở sản xuất giống lợn ngoại (tối thiểu 300 con lợn nái); gà giống (tối thiểu 5.000 gà mái đẻ); chăn nuôi lợn, bò, gia cầm (đạt tiêu chí trang trại) được hỗ trợ 50% kinh phí nhưng không quá 1 tỷ đồng/cơ sở

- Dự án đầu tư cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp theo công nghệ nuôi cấy mô (tối thiểu 1 triệu cây/năm) được hỗ trợ 50% kinh phí nhưng không quá 1 tỷ đồng/cơ sở

- Dự án đầu tư cơ sở sản xuất giống tôm sú (tối thiểu 10 triệu con giống P15/năm); sản xuất giống cá mặn, lợ (tối thiểu 2 triệu con cỡ 3 cm/năm) được hỗ trợ 50% kinh phí nhưng không quá 1 tỷ đồng/cơ sở

[2] Hỗ trợ 50% kinh phí mua giống và 30% kinh phí mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo quy trình; Quy mô vùng chuyển đổi tối thiểu 01 ha

[3] Hỗ trợ 50% kinh phí mua giống, 30% kinh phí mua vật tư; quy mô tối thiểu 1.000 ; hỗ trợ bình tuyển, công nhận cây ăn quả đặc sản đầu dòng 2 triệu/cây.

[4] Hỗ trợ chênh lệch lãi suất giữa lãi vay Ngân hàng thương mại và lãi vay Ngân hàng Chính sách xã hội

[5] Hỗ trợ 50% giá cây giống, DT tối thiểu 02ha; không quá 4 triệu đồng/ha và 50 triệu đồng/dự án. Hỗ trợ 50% giá cây giống khi trồng cây bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, diện tích trồng tối thiểu 2 ha, tối đa không quá 4 triệu đồng/ha đối với cây bản địa và 3 triệu đồng/ha đối với cây lâm sản ngoài gỗ.

______________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Phạm Văn Thái, phamvanthai79@gmail.com:

Hiện nay nhiều xã còn khó khăn trong việc huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng nông thôn mới, vấn đề này được lãnh đạo tỉnh tháo gỡ, giải quyết ra sao?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Tổng vốn huy động để đầu tư xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 của tỉnh là 1.943 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn trung ương hỗ trợ trực tiếp cho chương trình MTQG xây dựng NTM là 745 tỷ đồng (vốn ĐTPT để xây dựng công trình là khoảng 580 tỷ đồng), mặc dù trong điều kiện ngân sách tỉnh còn nhiều khó khăn nhưng tỉnh đã chỉ đạo các Sở ngành và địa phương lồng ghép vốn đầu tư công để thực hiện xây dựng nông thôn mới, giai đoạn này ngân sách địa phương trực tiếp thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo các mục tiêu của Chương trình khoảng 900 tỷ đồng (trong đó ngân sách tỉnh hơn 750 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ hơn 82%, phần còn lại là ngân sách huyện, xã và nhân dân đóng góp).

Để huy động 900 tỷ đồng (phần đối ứng của tỉnh), tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 40/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc quy định cơ chế, chính sách huy động nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020, theo đó nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới bao gồm: NSTW, Ns tỉnh; ngân sách huyện, xã, huy động nhân dân đóng góp và lồng ghép các nguồn lực khác.

Để đảm bảo huy động nguồn lực cho chương trình,UBND tỉnh đã chỉ đạo một số giải pháp cụ thể như sau:

1. Chỉ đạo rà soát QH XD NTM, xác định đúng nhu cầu đầu tư hạ tầng, phân kỳ đầu tư hợp lý để giảm áp lực cân đối nguồn lực cho các dự án chưa thực sự cấp bách.

2. Tăng cường lồng ghép các Chương trình, dự án của các ngành, các địa phương để ưu tiên thực hiện các tiêu chí về nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền vững; ưu tiên nguồn vốn cho hạ tầng phục vụ sản xuất; ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các xã có kế hoạch về đích trong giai đoạn 2019-2020.

3. Khuyến khích các chủ đầu tư (UBND xã) áp dụng cơ chế đặc thù, thiết kế mẫu các công trình xây dựng cơ bản đơn giản nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả đầu tư, rút ngắn thời gian thực hiện.

4. Phối hợp với UBMTTQVN tỉnh làm tốt công tác vận động các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn và những người con của quê hương sống, công tác ở xa quê hương đóng góp, cùng chung tay xây dựng nông thôn mới. Việc huy động đóng góp của người dân trên nguyên tắc tự nguyện, phù hợp với khả năng.

5. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về đầu tư công, quản lý ngân sách nhà nước để không phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản và đảm bảo tỷ lệ vốn đối ứng theo quy định.


 Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

_______________________________________________________________

Câu hỏi của bạn letaithu.hu_0202@gmail.com, letaithu.hu_0202@gmail.com:

Tỉnh Thừa Thiên Huế có rất nhiều đặc sản nổi tiếng, nhưng theo tôi nhận thấy công tác tuyên truyền quảng bá chưa được chú trọng nên thị trường tiêu thụ vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp. Xin hỏi lãnh đạo ngành công thương định hướng phát triển thị trường sản phẩm đặc sản Huế trong thời gian tới như thế nào?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Công tác tuyên truyền quảng bá nhằm mở rộng thị trường giữ vai trò quan trọng trong việc thiết lập và phát triển hệ thống sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp với mục tiêu lợi nhuận và duy trì ưu thế cạnh tranh; Căn cứ chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia và nguồn kinh phí ngân sách tỉnh giao hàng năm, Sở Công Thương đã lựa chọn các Hội chợ triển lãm, hội nghị kết nối có quy mô và mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch xúc tiến thương mại nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, Hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia hội chợ, triển lãm ngoài tỉnh và nước ngoài; tham gia hoạt động kết nối tiêu thụ, phát triển thị trường cho các sản phẩm nông sản, đặc sản, thủ công mỹ nghệ với các tỉnh, thành trong cả nước.

Những năm qua, Sở Công Thương triển khai hoạt động xúc tiến thương mại tỉnh trên hầu khắp các huyện/thị xã/thành phố Huế và đã đem lại những kết quả tích cực, công tác tuyên truyền, quảng bá sản phẩm đặc sản được quan tâm và đẩy mạnh; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giới thiệu, quảng bá hàng hóa, sản phẩm, mua bán và giao thương, mở rộng thị trường, hệ thống phân phối đến các địa phương thuộc các khu vực như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và các nước Lào, Campuchia,… góp phần phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên,bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một tồn tại, hạn chế như: Số lượng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại còn ít; chưa chủ động giới thiệu thương hiệu, quảng bá sản phẩm, hình ảnh của doanh nghiệp mình; Nguồn kinh phí Nhà nước bố trí thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại còn hạn chế; Việc ứng dụng công nghệ thông tin,thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh để quảng bá, giới thiệu sản phẩm đặc sản chưa phổ biến,…


Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Định hướng phát triển thị trường sản phẩm đặc sản Huế trong thời gian tới, Sở Công Thương tiếp tục đẩy mạnh triển khai hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tuyên truyền, quảng bá sản phẩm đặc sản đến người tiêu dùng, mở rộng và phát triển hệ thống phân phối trong và ngoài nước. Các hoạt động cụ thể:

- Tổ chức, tham gia các Hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước nhằm quảng bá tiềm năng kinh tế thương mại địa phương, giới thiệu quảng bá sản phẩm đặc sản của tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Tổ chức, tham gia các hoạt động Kết nối tiêu thụ, phát triển thị trường cho các sản phẩm nông sản, đặc sản, thủ công mỹ nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử vào các hoạt động hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ giao dịch thương mại hàng hóa qua sàn giao dịch thương mại điện tử tỉnh Thừa thiên Huế (www.santmdthue.vn), huy động tối đa các nguồn lực để phục vụ hoạt động thông tin xúc tiến thương mại trên mạng internet.

- Phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn, cho các doanh nghiệp nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp, tính sẵn sàng thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại; tập huấn về nâng cao năng lực thiết kế bao bì sản phẩm cho các doanh nghiệp, kỹ năng bán hàng, xây dựng và phát triển thương hiệu, xây dựng và phát triển hệ thống phân phối nhằm cung cấp kiến thức cần thiết cho các doanh nghiệp,…

_____________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Bùi Thị Ngọc Vy, TP Huế:

Phát triển nông nghiệp nông thôn thường kéo theo những tác động đến môi trường. Vậy quy hoạch về bảo vệ môi trường trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới của tỉnh ta là như thế nào để hình thành được một nền nông nghiệp phát triển bền vững?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp được quy định tại Điều 69 Luật Bảo vệ môi trường 2014 như sau:

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y phải thực hiện quy định về bảo vệ môi trường tại khoản 1 và khoản 2, Điều 78 của Luật này. Cụ thể:

1.1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, chuyển giao và xử lý hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y phải thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định của pháp luật có liên quan.

1.2. Hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y có độc tính cao, bền vững, lan truyền, tích tụ trong môi trường, tác động xấu tới môi trường và sức khỏe con người phải được đăng ký, kiểm kê, kiểm soát, quản lý thông tin, đánh giá, quản lý rủi ro và xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Phân bón, sản phẩm xử lý môi trường chăn nuôi đã hết hạn sử dụng; dụng cụ, bao bì đựng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y sau khi sử dụng phải được xử lý theo quy định về quản lý chất thải.

3. Khu chăn nuôi tập trung phải có phương án bảo vệ môi trường và đáp ứng yêu cầu sau:

a) Bảo đảm vệ sinh môi trường đối với khu dân cư;

b) Thu gom, xử lý nước thải, chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải;

c) Chuồng, trại phải được vệ sinh định kỳ; bảo đảm phòng ngừa, ứng phó dịch bệnh;

d) Xác vật nuôi bị chết do dịch bệnh phải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại và vệ sinh phòng bệnh.

Theo Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh được quy định tại Khoản 1 và Khoản 3, Điều 3.

Lập quy hoạch bảo vệ môi trường như sau:

1. Quy hoạch bảo vệ môi trường được lập phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với kỳ đầu cho giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040 theo hai (02) cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.

2. Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh được lập dưới hình thức báo cáo riêng hoặc lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội với nội dung sau đây:

a) Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng phải thể hiện được các nội dung quy định tại Khoản 2, Điều 3 của Nghị định này với yêu cầu chi tiết hơn gắn với vị trí địa lý, điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương lập quy hoạch;

b) Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường dưới hình thức lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh phải thể hiện được các nội dung quy định tại Khoản 2, Điều 3 của Nghị định này với yêu cầu chi tiết hơn gắn với vị trí địa lý, điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương lập quy hoạch. Trong đó, các nội dung về nguồn lực thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường, trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường được lồng ghép vào các nội dung tương ứng của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.

Việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh (bao gồm nhiều lĩnh vực trong đó có bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp) do Sở tài nguyên và Môi trường tham mưu xây dựng.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

__________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Thanh Nhàn, Helenpan@gmail.com:

Phát triển Nông nghiệp có thể hỗ trợ cho phát triển du lịch - được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Vậy xin hỏi Tỉnh sẽ dành sự quan tâm, đầu tư thích đáng như thế nào trong việc quy hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng (giao thông, điện, nước…) đối với các vùng sẽ tập trung cho sản xuất nông nghiệp đặc trưng, đặc sản của Huế kết hợp với du lịch (dạng như “Farmstay”)? Tỉnh có ưu đãi, hay chính sách gì cho các doanh nghiệp, hay các “Start up” đầu tư phát triển du lịch kết hợp với nông nghiệp?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Chủ trương của tỉnh là ủng hộ phát triển nông nghiệp hỗ trợ du lịch, ví dụ như tỉnh đã cấp Quyết định chủ trương đầu tư cho một số dự án đầu tư vào nông nghiệp kết hợp hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh: dự án Sản xuất nông nghiệp và dịch vụ sinh thái Go Green Farm; dự án Vườn Bách thảo trên sông tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Các dự phát triển kinh tế nông nghiệp kết hợp du lịch được hưởng các chính sách theo quy định của Luật đầu tư, Luật đất đai còn được hưởng các các ưu đãi, hỗ trợ theo quy định tại các chính sách khác (bao gồm hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước …) như:

Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/04/2018 của Chính phủ về Cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020.

Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND ngày 09/7/2019 của HĐND tỉnh về quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025.

Ngoài ra, theo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hỗ trợ từ ngân sách TW và ngân sách địa phương cũng đầu tư kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi) theo quy hoạch vùng dân cư nông thôn để phục vụ sinh hoạt và sản xuất

Bên cạnh đó Tỉnh đã ban hành Quyết định 1162/QĐ-UBND ngày 13/5/2019 Ban hành Danh mục sản phẩm chủ lực tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2019-2020 và giải pháp hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2019-2020”, trong đó có 9 sản phẩm nông nghiệp/16 sản phẩm chủ lực của Tỉnh giai đoạn 2019-2020 (Các sản phẩm thủy, hải sản vùng đầm phá Tam Giang Cầu Hai; Tôm chua, nước mắm, ruốc, mắm các loại…; Thanh Trà Huế;  và các loại cây ăn quả; Sen Huế; Lúa, gạo chất lượng cao; Bò, thịt bò, thịt gia súc…; Tinh dầu tràm, tinh dầu từ dược liệu, dược liệu…; Lạc; Gỗ rừng trồng). Đây đều là những sản phẩm nông nghiệp được định hướng hỗ trợ phục vụ phát triển du lịch


Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

- Để thúc đẩy, tỉnh có một số giải pháp hỗ trợ phát triển các sản phẩm chủ lực, ví dụ như:

+ Xây dựng Đề án phát triển Ẩm thực Huế và Không gian Ẩm thực Huế

+ Xây dựng và quản lý thương hiệu các loại hình ẩm thực đặc trưng Huế (ẩm thực cung đình, ẩm thực dân gian, ẩm thực chay, ẩm thực đường phố, ẩm thực vùng đầm phá…).

+ Hình thành các tour du lịch thưởng thức các món ăn Huế, các tour khám phá ẩm thực Huế; tour trải nghiệm nghệ thuật chế biến ẩm thực Huế…

+ Hỗ trợ thực hiện dự án xây dựng và quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý Huế cho các sản phẩm

+ Hỗ trợ tổ chức các phiên chợ /Lễ hội /Hội thi trái ngon

* Về ưu đãi, chính sách cho các doanh nghiệp hay các “Start up” đầu tư phát triển du lịch kết hợp với nông nghiệp:

Hiện nay, tỉnh đã ban hành Quyết định số 39/2018/QĐ-UBND ngày 28/6/2018 về việc ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thừa Thiên Huế, theo đó đối với riêng các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tỉnh có chính sách hỗ trợ về văn phòng làm việc, hỗ trợ đào tạo tập huấn, hỗ trợ tín dụng nhằm cung cấp điều kiện cần thiết cho các tổ chức, cá nhân hoàn thiện ý tưởng kinh doanh, phát triển doanh nghiệp trong giai đoạn mới thành lập.

______________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Hoàng Thị Loan, Khu Quy hoạch Bàu vá:

Chương trình chủ nhật xanh có ảnh hưởng tích cực như thế nào đến xây dựng nông thôn mới?. Chính sách hỗ trợ nào được triển khai trong xây dựng nông thôn mới, đồng thời góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp?. Đâu là thành công của chương trình?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Ngày 19/01/2019, UBND tỉnh có Quyết định số 139/QĐ-UBND phê duyệt Đề án tổ chức Ngày Chủ nhật xanh “Hãy hành động để Thừa Thiên Huế thêm Xanh - Sạch - Sáng”.

Ngay sau khi phát động, Đề án đã và đang được các địa phương, ban, ngành đoàn thể trên địa bàn tỉnh tích cực triển khai sâu rộng. Bằng những cách làm sáng tạo, chỉ sau một thời gian ngắn, phong trào "Ngày chủ nhật xanh" trên địa bàn tỉnh đã đi vào chiều sâu, có sức lan tỏa và mang lại hiệu quả cao. Đến nay, phong trào đã thực sự trở thành hoạt động thường xuyên thu hút cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh tham gia. Các hoạt động hưởng ứng ngày càng lan tỏa sâu rộng, ý thức về bảo vệ môi trường của người dân ngày càng được nâng cao.

Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Bộ tiêu chí xã NTM có 19 tiêu chí. Tiêu chí 17 - Môi trường và an toàn thực phẩm có 8 chỉ tiêu; trong đó, 2 chỉ tiêu quan trọng là: Xây dựng cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn và Chất thải rắn, nước thải được thu gom, xử lý theo quy định. 

Đặc điểm của tiêu chí này tiêu chí “mềm”, không cần nhiều kinh phí, việc hoàn thành và duy trì nâng cao chất lượng tiêu chí cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhất là phát huy vai trò chủ thể của người dân, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường...

Vì vậy, nội dung Đề án "Ngày Chủ nhật xanh - Hãy hành động để Thừa Thiên Huế thêm xanh - sạch - sáng” đã đồng hành chặt chẽ cùng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM nói chung và đối với việc thực hiện hoàn thành (và giữ vững) tiêu chí 17 nói riêng. Mặt khác, việc thực hiện đề án "Ngày Chủ nhật xanh - Hãy hành động để Thừa Thiên Huế thêm xanh - sạch - sáng” còn có ý nghĩa trong việc phát huy tính “chủ thể” của người dân, của cộng đồng trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM theo hướng thực chất và bền vững, đó cũng là một trong những quan điểm chính trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.


Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

_________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Văn Minh, Phú Cường, Lộc Thủy, Phú Lộc:

Việc quy hoạch và quản lý quy hoạch hệ thống giao thông, thủy lợi nông thôn đã và đang bỏ ngỏ gây nhiều hệ lụy, như tai nạn vặt, ảnh hưởng sinh hoạt đi lại ngập lụt, hư hại hoa màu, đường sá... Việc lấn chiếm của người dân ra đường thôn xóm cũng khó quản lý và thực tế xã tôi không ai quản lý, xử lý. Xin cho tôi hỏi anh Phó chủ tịch cần phải giải quyết vấn đề này ra sao, trách nhiệm UBND tỉnh và các cấp chính quyền ra sao?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Tỉnh Thừa Thiên Huế đã có Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt tại Quyết định số 1413/QĐ-UBND ngày 23/6/2016. Trong đó, Tỉnh đang tập trung đầu tư 02 Khu xử lý chất thải rắn gồm: Khu xử lý chất thải rắn tập trung Phú Sơn, thị xã Hương Thủy với diện tích khoảng 40 ha; Khu xử lý chất thải rắn Hương Bình, thị xã Hương Trà với diện tích khoảng 40 ha.

Ngày 13/6/2012, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 1065/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 1065/QĐ-UBND). Thực hiện Quyết định số 1065/QĐ-UBND, UBND các huyện, thị xã và thành phố Huế đã xây dựng các Đề án cụ thể phù hợp cho từng địa phương, trong đó có bố trí kinh phí thực hiện Đề án, đầu tư nhân lực, phương tiện phục vụ thu gom chất thải rắn (CTR).

Tình trạng rác thải ở những con sông, ao, hồ, bãi đất trống gần các khu chợ ở nông thôn, các khu đông dân cư sinh sống nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của người dân về giữ gìn vệ sinh môi trường sống còn hạn chế, chưa có thói quen phân loại rác thải tại nguồn.  

Do đó, chính quyền mỗi địa phương cần tăng cường thực hiện công tác tuyên truyền đến người dân, người lao động nhận thức rõ hơn về tác hại của ô nhiễm môi trường, tuyên truyền người dân tham gia tích cực các phong trào do UBND tỉnh và tại địa phương phát động như: phong trào Chủ Nhật Xanh; phong trào Chống rác thải nhựa và “Nói không với túi ni lông sử dụng 01 lần”, các hoạt động nâng cao nhận thức chị em phụ nữ thông qua các buổi làm việc của Hội phụ nữ thôn, xã.. từ đó sẽ nâng cao ý thức và hình thành thói quen giữ gìn môi trường xung quanh.

Một số giải pháp khắc phục:

1. Về tuyên truyền:

Việc vận động người dân thực hiện nghiêm túc công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, thu gom đến điểm tập kết đúng quy định đã được các Sở chuyên môn triển khai cụ thể:

- Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế (TRT), Đài Truyền thanh Huế, Báo Thừa Thiên Huế lồng ghép các nội dung tuyên truyền, phát động thực hiện phong trào “Chống rác thải nhựa” vào các chuyên mục “Môi trường và Cuộc sống” phát sóng vào Chủ nhật hàng tuần trên sóng Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế (TRT); chuyên mục “Tài nguyên, môi trường và phát triển” 02 lần/tuần trên Đài Truyền thanh Huế và Báo Thừa Thiên Huế.

- Sở Thông tin và Truyền thông đang dự thảo Quyết định về mạng lưới Ngày Chủ nhật xanh.

2. Công tác quản lý nhà nước về các vấn đề có liên quan

Ngày 29/7/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 1227/STNMT-MT về việc hướng dẫn triển khai xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và quy định về lưu giữ, thu gom, chuyển giao, tập kết chất thải rắn sinh hoạt tại các địa phương. Qua đó, hướng dẫn các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện thu gom và xử lý chất thải rắn của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố Huế nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc vệ sinh môi trường.

Ngoài ra, theo phản ánh, việc đổ rác không đúng nơi quy định thuộc trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương và các Ban quản lý chợ. Về vấn đề này, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác quản lý, giám sát, nâng cao trách nhiệm trong quản lý, thu gom và xử lý CTR sinh hoạt.

Thông qua phần mềm đã được tương thích trên điện thoại di động như Huế - S việc phản ánh về trật tự, an ninh, vệ sinh môi trường đã được cổng thông tin của Trung tâm điều hành Đô thị thông minh tiếp nhận và xử lý kịp thời.

Vừa qua, UBND tỉnh cũng đã ban hành văn bản số 3976/UBND-TN ngày 21/6/2019 về việc hướng dẫn thực hiện xử phạt hành chính các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hy vọng với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền và sự đồng thuận của người dân, tình trạng vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường sẽ sớm được khắc phục.

_____________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Gia Khang, phạmgiakhang@gmail.com:

Hộ gia đình thực hiện dự án phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới có được hưởng chính sách hỗ trợ gì không? Nếu có mức hỗ trợ là gì?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Theo Điều 5 của Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 của UBND tỉnh Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020 thì việc hỗ trợ hộ gia đình thực hiện dự án phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được quy định cụ thể như sau:

1. Đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo: Được hỗ trợ mua giống cây trồng, vật nuôi, ong mật, thủy sản (sau đây gọi chung là giống) với mức hỗ trợ giống tối đa 80% và không quá 12 triệu đồng/hộ/mô hình.

Được hỗ trợ chi phí mua phân bón (trừ phân chuồng), thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, thức ăn nuôi trồng thủy sản, văcxin, thuốc thú y (bao gồm thuốc thú y thủy sản), các loại chế phẩm dùng trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (sau đây gọi chung là vật tư), với mức hỗ trợ vật tư tối đa 70% và không quá 12 triệu đồng/hộ/mô hình. Nếu mô hình trồng cây dài ngày, vật tư chỉ tính và hỗ trợ năm đầu.

2. Đối với hộ khác (bao gồm hộ không phải hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia trong nhóm hộ để thực hiện mô hình, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững): Nội dung hỗ trợ tương ứng như hộ nghèo, hộ cận nghèo, với mức hỗ trợ giống tối đa 50%, vật tư tối đa 30% và không quá 07 triệu đồng/hộ/mô hình.

3. Hỗ trợ 50% chi phí đầu tư nghề mới, mua sắm ngư lưới cụ tăng năng lực đánh bắt thủy sản nhưng không quá 30 triệu đồng/tàu.

_________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn huutam2710@gmail.com, huutam2710@gmail.com:

Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào nông thôn được hưởng chính sách miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước như thế nào? có được ưu tiên gì hơn khi đầu tư vào vùng đặc biệt khó khăn không? Rất mong được chương trình giải đáp.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp khi đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế được áp dụng mức ưu đãi, hỗ trợ  cao nhất theo quy định của Pháp luật cụ thể như sau:

Ưu đãi về đất đai:

- Dự án thuộc danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp và nông thôn được quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ khi thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định pháp luật về đầu tư (huyện Nam Đông, A Lưới, Khu Kinh tế Chân Mây-Lăng Cô), thì được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước. Như vậy so với các chính sách đã ban hành trước đây khi đầu tư vào vùng đặc biệt khó khăn thì chính sách miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP được áp dụng mức ưu đãi, hỗ trợ  cao nhất.

- Dự án thuộc danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp và nông thôn được quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ khi thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo quy định pháp luật về đầu tư (huyện Quảng Điền, Phú Lộc, Phong Điền, Phú Vang, thị xã Hương Trà), thì  được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 15 năm đầu kể từ ngày Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước và giảm 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 07 năm tiếp theo.

- Dự án thuộc danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp và nông thôn được quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ khi thực hiện tại địa bàn nông thôn thuộc thị xã: Hương Thủy  được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 11 năm đầu kể từ ngày Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước và giảm 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 05 năm tiếp theo.

- Ngoài ra các dự án còn được hưởng ưu đãi về miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản theo quy định tại khoản 2, Điều 19, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 dự án được “Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng tối đa không quá 03 năm kể từ ngày có quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước”.

Chi tiết ưu đãi về đất đề nghị các bạn nghiên cứu thêm Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn để áp dụng.

____________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Lê Đức Thuận, Trị trấn Khe Tre, Nam Đông:

Tôi có thắc mắc về vấn đề này mong được chương trình đáp giúp. Thắc mắc của tôi cụ thể như sau: xã được công nhận đạt chuẩn văn hóa thì sau thời gian 05 năm sẽ được đánh giá để công nhận lại. Vậy xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới có quy định sau thời gian bao lâu thì phải đánh giá để công nhận lại không? Vấn đề này được quy định cụ thể tại văn bản nào? Mong chương trình giải đáp giúp tôi. Chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe chương trình.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Hiện chưa có quy định về việc đánh giá, công nhận lại địa phương (xã, huyện) đã đạt chuẩn NTM. Tuy nhiên như đã đề cập ở trên, quá trình xây dựng NTM là một quá trình phát triển liên tục nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn. Vì vậy, các địa phương sau khi đã được công nhận đạt chuẩn NTM phải xây dựng kế hoạch tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng các tiêu chí, hướng tới xây dựng xã đạt chuẩn NTM nâng cao và hoàn thiện, sớm trở thành xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu.

Theo đó UBND tỉnh đã chỉ đạo Ban chỉ đạo Chương trình các cấp tiếp tục rà soát thực trạng NTM trên địa bàn đối chiếu với các tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, đề ra giải pháp cụ thể nhằm củng cố và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt.

____________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Đỗ Minh Hải, minhhai_1978@gmail.com:

Tỉnh có chính sách hỗ trợ gì cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sản phẩm đặc sản Huế không? Xin cho biết cụ thể

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Về các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sản phẩm đặc sản Huế, hàng năm tỉnh đều bố trí ngân sách để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở công nghiệp nông thôn (trong đó có các đơn vị sản xuất các sản phẩm đặc sản) thông qua các chương trình, kế hoạch:

- Kế hoạch phát triển hàng lưu niệm và quà tặng tỉnh Thừa Thiên Huế: Hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện 02 nội dung:

+ Thiết kế mẫu mã mới sản phẩm làm hàng lưu niệm và quà tặng Huế năm 2019:

+ Thiết kế, cải tiến mẫu mã bao bì đóng gói cho các sản phẩm đặc sản Huế

- Kế hoạch xúc tiến thương mại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019: Hỗ trợ các đơn vị (trong đó có các đơn vị sản xuất sản phẩm đặc sản Huế) tham gia thực hiện các nội dung:

+ Hỗ trợ tham gia giới thiệu các sản phẩm tại các Hội chợ triển lãm trong và ngoài nước.

+ Hỗ trợ tham gia các chương trình kết nối tiêu thụ sản phẩm, kết nối đưa các sản phẩm vào các kênh phân phối lớn

+ Hỗ trợ quảng bá sản phẩm đặc sản Huế trên các phương tiện thông tin truyền thông và website của Tỉnh, Sở Công Thương

- Kế hoạch khuyến công địa phương:

Các đơn vị/ cơ sở sản xuất sản phẩm đặc sản nếu trực tiếp đầu tư sản xuất Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại các huyện, thị xã, các phường thuộc thành phố Huế được chuyển đổi từ xã chưa quá 5 năm; thuộc các ngành nghề truyền thống được UBND tỉnh công nhận, thì được hưởng các chính sách khuyến công hỗ trợ theo Quyết định số 74/2016/QĐ-UBND ngày 18/10/2016 của UBND tỉnh, gồm các nội dung hỗ trợ:


Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương:

+ Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề theo nhu cầu của cơ sở công nghiệp để tạo việc làm và nâng cao tay nghề cho người lao động. Hình thức đào tạo nghề, truyền nghề chủ yếu là ngắn hạn, gắn lý thuyết với thực hành.

+ Hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; chuyển giao công nghệ; ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất CN-TTCN, ngành nghề truyền thống; xây dựng các mô hình thí điểm về sản xuất sạch hơn.

+ Hỗ trợ đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp; thiết kế mới và cải tiến mẫu mã, kiểu dáng các sản phẩm có giá trị kinh tế.

Các chương trình kế hoạch này đều đã được triển khai phổ biến đến các địa phương, cơ sở sản xuất; về nội dung và quy định cụ thể để nhận được sự hỗ trợ, đề nghị các đơn vị có nhu cầu tìm hiểu thêm trên Website của Sở Công Thương hoặc liên hệ trực tiếp với Sở Công Thương để được hướng dẫn cụ thể thêm.

_____________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Đỗ Thị Hằng, Phong Sơn, Phong Điền:

Tôi xin gửi đến chương trình hai vấn đề: Xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu khác xã đạt chuẩn nông thôn mới ở điểm nào? - Phải được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới rồi mới được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu có đúng không? Đề nghị chương trình giải đáp

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Xây dựng nông thôn mới là một quá trình thường xuyên, liên tục, có điểm khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển nông thôn bền vững. Vì vậy, các xã sau khi đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới cần tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng các tiêu chí, hướng tới xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và hoàn thiện sớm trở thành xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

Xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu khác xã nông thôn mới ở các điểm:

- Các xã sau khi đã được công nhận xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, cần xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2018-2020 theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, giai đoạn 2018-2020 ban hành theo Quyết định số 741/QĐ-UBND ngày 06/4/2018 của UBND tỉnh (gồm 05 tiêu chí: Hạ tầng kinh tế - xã hội; Phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân; Giáo dục - Y tế - Văn hóa; Cảnh quan - Môi trường và Quốc phòng - An ninh - Hành chính công).

- Xã nông thôn mới kiểu mẫu là xã đạt xã NTM nâng cao và đạt thêm 4 nhóm tiêu chí quy định tại Quyết định số 691/QĐ-TTg  ngày 05/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về Bộ tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020 (Gồm tiêu chí Sản xuất - Thu nhập - Hộ nghèo; tiêu chí Giáo dục- Y tế- Văn hóa ; tiêu chí Môi trường và tiêu chí An ninh- Trật tự - Hành chính công).

________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Nguyễn Thành, Nam Đông:

Xã Hương Phú, đã được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới từ năm 2016 nhưng hiện nay hiện nay thôn Phú Mậu không hệ thống cấp nước sạch. Các hộ sử dụng nước giếng để sinh hoạt, do thời tiết nắng hạn kéo dài, người dân không không đủ nước để sinh hoạt vì vậy người dân hàng ngày phải đi xa để lấy nước về sinh hoạt. Kính đề nghị lãnh đạo tỉnh quan tâm giải quyết, sớm đầu tư hệ thống cấp nước sạch cho thôn Phú Mậu.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Hiện nay, xã Hương Phú có tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100% (trong đó nước sạch đạt 64%). Từ trước đến nay, người dân thôn Phú Mậu sử dụng nước giếng được đầu tư từ nhiều nguồn vốn đảm bảo cung cấp nước hợp vệ sinh cho thôn Phú Mậu; tuy nhiên năm 2019 do thời tiết nắng hạn kéo dài, làm khô cạn các nguồn nước các khe, suối và mực nước ngầm xuống thấp đã làm cho các giếng bị khô cạn gây khó khăn, không cung cấp đủ cho nhu cầu người dân sử dụng.

Năm 2015, bằng nguồn vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (3 tỷ đồng) tỉnh đã đầu tư hệ thống cấp nước sạch xã Hương Phú nối từ Thị trấn Khe Tre đến thôn Thanh An và thôn Ka Tư, tuy nhiên do thôn Phú Mậu nằm cách điểm cuối hệ thống cấp nước sạch thôn Phú Hòa và thôn Thanh An xa (khoảng 6 km) nên dự án chưa đầu tư.

Trước thông tin phản ánh của báo chí và ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, ngày 09/8/2019 Sở Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Công ty CP Cấp nước Thừa Thiên Huế và UBND huyện Nam Đông tiến hành kiểm tra thực địa thôn Phú Mậu, qua đó đã thống nhất đề nghị Công ty CP Cấp nước Thừa Thiên Huế khảo sát, tính toán cụ thể mức đầu tư để báo cáo UBND tỉnh xem xét bổ sung vào dự án đầu tư hệ thống cấp nước sạch 05 xã, thị trấn vùng dưới huyện Nam Đông đã được phê duyệt trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 và sẽ triển khai khi cân đối được nguồn lực.

_____________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn thanhque_py@gmail.com, thanhque_py@gmail.com:

Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là một xu thế tất yếu trong thời buổi hiện nay. Vậy trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh ta thì đã có những định hướng gì về phát triển nông nghiệp công nghệ cao?. Người dân được hỗ trợ những gì khi đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng này?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Thứ nhất về định hướng về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Thừa Thiên Huế:

Trong nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất được coi như một trong những “chìa khóa” của thành công. Đặc biệt khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), thì ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất là giải pháp giúp nông sản Việt Nam có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế.

UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21/4/2016 về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế; trong đó chú trọng đến phát triển nông nghiệp ứng dụng dụng công nghệ cao. Trong những năm gần đây tỉnh đã kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghiệp cao; gần đây nhất vào ngày 29/7/2019, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, chủ đề “Nông nghiệp Thừa Thiên Huế phát triển bền vững, an toàn, ứng dụng công nghệ cao” với mục đích giới thiệu những tiềm năng, lợi thế của ngành nông nghiệp tỉnh nhà đến các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh.

UBND tỉnh đã và đang chỉ đạo các ngành, địa phương xây dựng danh mục các dự án với nội dung, quy mô và mục tiêu cụ thể, cùng với các chính sách khuyến khích, ưu đãi nhất nhằm xúc tiến và kêu gọi đầu tư mạnh vào lĩnh vực nông nghiệp. Cụ thể như:

- Các dự án Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, quy trình kỹ thuật canh tác theo hướng công nghệ cao. Dự án áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, sản xuất hữu cơ; liên kết bao tiêu và chế biến sản phẩm chất lượng cao; đầu tư hình thành vùng sản xuất lúa, rau hữu cơ quy mô lớn. Dự án đầu tư liên kết chuyển giao công nghệ trồng, chế biến tiêu thụ cây ăn quả. Các dự án tổ chức dồn điền đổi thửa (Tỉnh khuyến khích người dân cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp trong các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao).

- Các dự án phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại ứng dụng công nghệ cao. Ưu tiên các dự án liên doanh, liên kết đầu tư xây dựng nhà máy giết mổ, chế biến thịt gia súc, gia cầm theo công nghệ mới (thịt mát). Các dự án nghiên cứu lai tạo sản xuất cung ứng giống vật nuôi chất lượng cao.   

- Dự án nuôi tôm trên cát ứng dụng công nghệ cao kết hợp các biện pháp quản lý tiên tiến (GAP, BMP, CoC, ...) thân thiện với môi trường tại các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung; nuôi theo quy trình VietGAP, GlobalGAP, Bio-Floc

- Các dự án phát triển trồng rừng gỗ lớn gắn với chứng chỉ FSC, trồng cây dược liệu dưới tán rừng, hình thành vùng nguyên liệu được quy mô lớn phục vụ công nghiệp chế biến dược liệu gắn với ngành y học cổ truyền. Các dự án chế biến sâu về lâm sản và các sản phẩm từ gỗ.

Thứ hai về chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao:

Nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức phát triển nông nghiệp công nghệ cao, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 về một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 - 2020. Trong đó, đối tượng áp dụng là các cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Một số nội dung hỗ trợ cụ thể, gồm: “Dự án đầu tư cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có quy mô từ 500 m2 trở lên (đối với trồng trọt),­ 2.000 m2 (đối với nuôi trồng thủy sản) được hỗ trợ 50% chi phí nhưng không quá 500 triệu đồng/cơ sở để đầu tư xây dựng nhà lưới, nhà bạt và lắp đặt các thiết bị chuyên dùng như hệ thống tưới nhỏ giọt, phun sương, sục khí, xử lý nước cấp, nước thải, ...”. Ngoài ra còn hỗ trợ đường giao thông, hệ thống điện, cấp nước đến hàng rào dự án (đối với các dự án chưa có các hạng mục này).

Lưu ý: Các dự án được hỗ trợ đầu tư phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển của địa phương nơi dự án đầu tư.

_______________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Bá sơn, bason.farm@gmail.com:

Doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu đề tài khoa học ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao thì có được nhà nước hỗ trợ gì không? điều kiện để được hỗ trợ?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Nhiều năm nay, tỉnh Thừa Thiên Huế luôn coi doanh nghiệp là đối tượng có yếu tố quyết định và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh; các doanh nghiệp sẽ là nơi gắn kết hoạt động nghiên cứu và phát triển với hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp, địa phương được khuyến khích triển khai hoạt động nghiên cứu, triển khai, xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, ứng dụng công nghệ sản xuất sạch, xây dựng và phát triển tài sản sở hữu trí tuệ, trước hết là cho các sản phẩm đặc trưng, truyền thống, tạo nên lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Theo Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 23/2/2017 của UBND tỉnh về Phê duyệt quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030, phần quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ trong ngành nông lâm thủy sản của tỉnh đã nêu rõ mục tiêu là phát triển một nền nông nghiệp bền vững theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi mùa vụ để thích nghi với biến đổi khí hậu. Theo đó, định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với nhu cầu của thị trường các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; tăng cường sử dụng giống mới năng suất cao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ nhằm tăng năng suất và sản lượng; tạo vùng chuyên canh, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, liên kết giữa sản xuất-chế biến-tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo tích lũy cho khu vực nông, lâm, ngư nghiệp.

Những nhiệm vụ khoa học của doanh nghiệp liên quan đến nghiên cứu ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao nằm trong định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ được  UBND tỉnh ưu tiên xem xét lựa chọn đưa vào danh mục nhiệm vụ nghiên cứu - thử nghiệm của tỉnh và cấp kinh phí thực hiện nhiệm vụ từ ngân sách nhà nước tỉnh.

Ngoài ra, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế có tài trợ toàn bộ hoặc một phần cho tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phù hợp với Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của bộ hoặc tỉnh công bố hằng năm, ưu tiên các đề tài nghiên cứu ứng dụng tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ theo định hướng ưu tiên của tỉnh công bố hằng năm với mức tài trợ cho một nhiệm vụ tối đa không quá 100 triệu đồng.

Về điều kiện để được hỗ trợ: Để được tài trợ, tổ chức, cá nhân cần có những tiêu chí sau:

Có hoạt động thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nêu ở trên.

Có hồ sơ đề nghị tài trợ theo quy định của Hội đồng quản lý Quỹ và có tính khả thi được Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn đề nghị với tỷ lệ đồng ý từ 60% trở lên để trình Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt (hồ sơ đề nghị tài trợ gửi về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế, 24 Lê Lợi, thành phố Huế).

__________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn tranthuytien1807@gmail.com, tranthuytien1807@gmail.com: Xin cho biết các xã đặc biệt khó khăn thì tiêu chí nông thôn mới được đánh giá như thế nào? Có văn bản quy định không?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Hồ Vang

Hiện nay Trung ương chưa ban hành Bộ tiêu chí xã NTM riêng cho xã đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Bộ tiêu chí thôn NTM  của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới tỉnh Thừa Thiên Huế, giai đoạn 2019 - 2020 (gọi là Bộ tiêu chí thôn NTM của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới) theo Quyết định 277/QĐ- UBND ngày 31/01/2019.

Bộ tiêu chí thôn NTM của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới được áp dụng đối với 43 thôn của 8 xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới trên địa bàn huyện A Lưới (theo Quyết định 1385/QĐ-TTg ngày 21/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018- 2020).

_________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn lethuhuyen1982@mail.com, lethuhuyen1982@mail.com: Kính đề nghị chương trình cung cấp Danh mục dự án kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, UBND tỉnh đã rà soát ban hành danh mục các dự án kêu gọi đầu tư trên địa bàn tỉnh trong đó có các dự án về nông nghiệp, cụ thể gần đây nhất UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1805/QĐ-UBND ngày 26/7/2019 về việc phê duyệt bổ sung danh mục dự án kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019 và định hướng đến năm 2022 và đã đăng tải tại trang Web của UBND tỉnh và Sở Kế hoạch và Đầu tư đề nghị bạn vào xem để biết thông tin, địa chỉ trang Web như sau: skhdt.thuathienhue.gov.vn/công khai thông tin/dự án kêu gọi đầu tư.


Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

1. Dự án Nhà máy giết mổ gia súc, gia cầm tập trung. ( Quy mô dự án :7-8 ha, địa điểm tại xã Phong Thu huyện Phong Điền).

2. Dự án trồng rừng gỗ lớn kết hợp trồng cây dược liệu. ( Quy mô dự án : 80 ha, địa điểm tại xã Phong Mỹ huyện Phong Điền).

3. Dự án trồng cây bản địa kết hợp trồng cây dược liệu. ( Quy mô dự án : 80 ha, địa điểm tại xã Phong Xuân, huyện Phong Điền).

4. Dự án xây dựng khu chuyên canh sản xuất cây thực phẩm sạch, nông nghiệp công nghệ cao Hương Chữ. ( Quy mô dự án : 50 ha, địa điểm tại Phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà).

5. Dự án xây dựng khu chuyên canh sản xuất cây thực phẩm sạch, nông nghiệp công nghệ cao Hương Xuân). ( Quy mô dự án : 50 ha, địa điểm tại Phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà).                

6. Dự án chăn nuôi gia súc, gia cầm công nghiệp và trang trại sản xuất giống vật nuôi. ( Quy mô dự án : 10-30ha/trang trại, địa điểm tại các Khu quy hoạch Phường, xã: Hương An, Hương Vân, Hương Hồ, Hương Bình, thị xã Hương Trà).

7. Khu công nghiệp nông - Lâm nghiệp. ( Quy mô dự án : 550 ha, địa điểm tại Khu Đô thị Chân Mây).

8. Khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. ( Quy mô dự án : 200 ha, địa điểm tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc).

9. Khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. ( Quy mô dự án : 230 ha, địa điểm tại xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc).

__________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Phạm Thu Quế, Bình Điền, Hương Trà:

Xin hỏi các giải pháp của tỉnh để nâng cao chất lượng tiêu chí văn hóa trong xây dựng nông thôn mới tại các địa phương của tỉnh.

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Thực hiện tiêu chí 06 (cơ sở vật chất văn hóa) và 16 (đạt chuẩn văn hóa) trong bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM), thời gian qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao không ngừng đẩy mạnh việc hướng dẫn cơ sở quy hoạch, xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở và đẩy mạnh thực hiện phong trào xây dựng khu dân cư văn hóa trong Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên địa bàn tỉnh.

Đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có tổng số 71 nhà văn hóa xã trên 152 xã, phường, thị trấn; 730 nhà văn hóa thôn trên tổng số 1.277 thôn, tổ dân phố.

Việc tổ chức thực hiện các tiêu chí văn hóa trong xây dựng nông thôn mới vẫn còn một số hạn chế như:

- Công tác tuyên truyền, vận động ở nhiều địa phương còn yếu, chưa phát huy được ý thức tự nguyện, tự giác, chưa thay đổi được nhận thức của các tầng lớp nhân dân, nhất là nhận thức về quyền lợi của người dân sẽ được hưởng, khi triển khai xây dựng văn hóa NTM.

- Chức năng, vai trò của nhà văn hóa hóa thôn, bản bị lãng quên hoặc không phát huy, thường chỉ sử dụng để hội họp của các tổ chức: hội cựu chiến binh; họp hội nông dân, hội phụ nữ ...

- Nội dung hoạt động của nhà văn hóa hóa thôn, bản còn sơ sài, lặp lại, thường giống nhau, chưa mang tính đặc thù của từng thôn cụ thể.

- Đội ngũ cán bộ văn hóa xã, phường, thị trấn trình độ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu.

 Trước thực trạng trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo Ngành Văn hóa và Thể thao phối hợp các ngành liên quan của tỉnh đẩy mạnh một số giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng các tiêu chí văn hóa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:

1. Về Phong trào xây dựng đời sống văn hóa nói chung cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

- Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và người dân về phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đưa Phong trào phát triển đi vào chiều sâu, có chất lượng.

- Lồng ghép có hiệu quả các phong trào ở cơ sở vào Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

- Huy động mọi nguồn lực để thực hiện phong trào. Gắn việc thực hiện phong trào với công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, trong đó chú trọng đến việc huy động đóng góp xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở.

- Tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy ước làng, thôn, tổ dân phố văn hóa, cơ quan văn hóa phù hợp với các quy định của pháp luật.

- Sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa cơ sở vào việc tổ chức các hoạt động liên quan đến phong trào.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai Phong trào, qua đó nhân rộng những mô hình tốt, những cách làm hay; đồng thời biểu dương khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Phong trào.

2. Đối với việc thực hiện tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa:

- Các địa phương cần có cơ chế quản lý, điều hành hoạt động nhà văn hóa một cách hiệu quả.

- Phân bổ ngân sách đảm bảo hoạt động ổn định hàng năm cho nhà văn hóa. Đầu tư đạt chuẩn để trở thành Trung tâm Văn hóa - Thể thao của địa phương.

- Thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng tổ chức hoạt động cho cán bộ phụ trách, quản lý nhà văn hóa xã, thôn.

- Tăng cường đầu tư, hỗ trợ kinh phí kết hợp vận động xã hội hóa đóng góp nguồn lực để nâng cấp, sửa chữa nhà văn hóa thôn.

___________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn nguyenhuyhoang@gmail.com, nguyenhuyhoang@gmail.com:

Nhiều xã trên địa bàn tỉnh đã đạt chuẩn nông thôn mới song đến nay vẫn gặp nhiều trở ngại trong việc duy trì, phát huy các tiêu chí. Giải pháp duy trì và giữ vững các tiêu chí nông thôn mới trong thời gian tới của tỉnh là gì?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Với quan điểm “Xây dựng nông thôn mới là một quá trình thường xuyên, liên tục, có điểm khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc”, quá trình xây dựng nông thôn mới nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển nông thôn bền vững. Vì vậy, các xã sau khi đã được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới (NTM) phải tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng các tiêu chí, hướng tới xây dựng xã đạt chuẩn NTM nâng cao, xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu.

Để làm cơ sở cho các địa phương triển khai, ngày 06/4/2018,  UBND tỉnh đã có Quyết định số 741/QĐ-UBND ban hành Bộ tiêu chí xã NTM nâng cao và tiếp đó hướng dẫn triển khai xây dựng xã NTM kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2018-2020. Theo đó, Xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2018-2020 là xã đã đạt các tiêu chí trong Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và đạt thêm 04 nhóm tiêu chí quy định tại Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 05/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ.

Trên cơ sở đó, UBND các huyện, thị xã chủ động triển khai xây dựng kế hoạch xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn trong giai đoạn 2018 - 2020 và hoàn thiện, nhân rộng trong giai đoạn 2021 - 2025. Kế hoạch xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu được lồng ghép chung trong Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới hàng năm của địa phương.

Ngày 12/01/2019 UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 11/KH-UBND về xây dựng xã NTM nâng cao và xã NTM kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu đề ra là đến năm 2020, mỗi huyện, thị xã có ít nhất 1 xã đạt xã NTM nâng cao, toàn tỉnh có ít nhất 02 xã NTM kiểu mẫu. Các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới khác đạt tối thiểu 10/17 tiêu chí của Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao (58%), trong đó có 01 trong 02 tiêu chí: Thu nhập và Hộ nghèo.

Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2018-2020, Thừa Thiên Huế chọn 13 xã tiêu biểu tại 8 huyện, thị xã để triển khai xây dựng thí điểm xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu làm cơ sở phát triển, nhân rộng cho giai đoạn sau năm 2020.

Về giải pháp, UBND tỉnh yêu cầu Ban chỉ đạo Chương trình các cấp tiếp tục rà soát thực trạng NTM trên địa bàn đối chiếu với các tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, đề ra giải pháp cụ thể nhằm củng cố và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt.

Về nội dung, Kế hoạch tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; thực hiện hiệu quả quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất hàng hóa chủ lực, chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) của xã gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thực hiện liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị hàng hóa đối với sản phẩm chủ lực của xã đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm và gắn với định hướng phát triển dịch vụ, du lịch...

Về chỉ đạo, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động dưới nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân. Đồng thời gắn việc xây dựng mô hình này với các phong trào “Ngày Chủ nhật Xanh” do UBND tỉnh phát động, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “5 không, 3 sạch”, “nông dân sản xuất - kinh doanh giỏi”, “nhà sạch, vườn đẹp”.

Về nguồn lực, huy động từ: Ngân sách (Trung ương, tỉnh), vốn tín dụng, lồng ghép từ các Chương trình dự án khác, huy động từ các tổ chức xã hội, nhân dân và các nguồn hợp pháp khác.

Trong đó, ngân sách tỉnh dự kiến hỗ trợ trực tiếp cho 13 xã triển khai thí điểm xây dựng xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020 với mức 01 tỷ đồng/xã. Các huyện, thị xã huy động nguồn lực địa phương, thực hiện lồng ghép với các chương trình, dự án khác trên địa bàn; huy động nguồn lực đóng góp từ cộng đồng dân cư,... để thực hiện các nội dung, tiêu chí của xã NTM nâng cao và xã NTM kiểu mẫu.

Ngoài ra, để thực hiện tốt các tiêu chí nâng cao đối với các xã đã đạt chuẩn, tỉnh Thừa Thiên Huế đã kịp thời triển khai mô hình thôn kiểu mẫu, vườn mẫu; Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); xây dựng NTM thôn bản vùng khó khăn;…

________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn chinhpham_80@gmail.com, chinhpham_80@gmail.com: Xin hỏi đối với những xã đã về đích nông thôn mới, tỉnh có biện pháp gì giúp các xã tiếp tục giữ vững, nâng cao các tiêu chí?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Với quan điểm “Xây dựng nông thôn mới là một quá trình thường xuyên, liên tục, có điểm khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc”, quá trình xây dựng nông thôn mới nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển nông thôn bền vững. Vì vậy, các xã sau khi đã được công nhận đạt chuẩn NTM phải tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng các tiêu chí, hướng tới xây dựng xã đạt chuẩn NTM nâng cao, xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu.

Để làm cơ sở cho các địa phương triển khai, ngày 06/4/2018, UBND tỉnh đã có Quyết định số 741/QĐ-UBND ban hành Bộ tiêu chí xã NTM nâng cao và tiếp đó hướng dẫn triển khai xây dựng xã NTM kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2018-2020. Theo đó, Xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2018-2020 là xã đã đạt các tiêu chí trong Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và đạt thêm 04 nhóm tiêu chí quy định tại Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 05/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ.

Trên cơ sở đó, UBND các huyện, thị xã chủ động triển khai xây dựng kế hoạch xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn trong giai đoạn 2018 - 2020 và hoàn thiện, nhân rộng trong giai đoạn 2021 - 2025. Kế hoạch xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu được lồng ghép chung trong Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới hàng năm của địa phương.

Ngày 12/01/2019 UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 11/KH-UBND về xây dựng xã NTM nâng cao và xã NTM kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu đề ra là đến năm 2020, mỗi huyện, thị xã có ít nhất 1 xã đạt xã NTM nâng cao, toàn tỉnh có ít nhất 02 xã NTM kiểu mẫu. Các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới khác đạt tối thiểu 10/17 tiêu chí của Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao (58%), trong đó có 01 trong 02 tiêu chí: Thu nhập và Hộ nghèo.

Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2018-2020, Thừa Thiên Huế chọn 13 xã tiêu biểu tại 8 huyện, thị xã để triển khai xây dựng thí điểm xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu làm cơ sở phát triển, nhân rộng cho giai đoạn sau năm 2020.

Về giải pháp, UBND tỉnh yêu cầu Ban chỉ đạo Chương trình các cấp tiếp tục rà soát thực trạng NTM trên địa bàn đối chiếu với các tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, đề ra giải pháp cụ thể nhằm củng cố và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt.

Về nội dung, Kế hoạch tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; thực hiện hiệu quả quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất hàng hóa chủ lực, chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) của xã gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thực hiện liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị hàng hóa đối với sản phẩm chủ lực của xã đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm và gắn với định hướng phát triển dịch vụ, du lịch...

Về chỉ đạo, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động dưới nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân. Đồng thời gắn việc xây dựng mô hình này với các phong trào “Ngày Chủ nhật Xanh” do UBND tỉnh phát động, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “5 không, 3 sạch”, “nông dân sản xuất - kinh doanh giỏi”, “nhà sạch, vườn đẹp”.

Về nguồn lực, huy động từ: Ngân sách (Trung ương, tỉnh), vốn tín dụng, lồng ghép từ các Chương trình dự án khác, huy động từ các tổ chức xã hội, nhân dân và các nguồn hợp pháp khác.

Trong đó, ngân sách tỉnh dự kiến hỗ trợ trực tiếp cho 13 xã triển khai thí điểm xây dựng xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020 với mức 01 tỷ đồng/xã. Các huyện, thị xã huy động nguồn lực địa phương, thực hiện lồng ghép với các chương trình, dự án khác trên địa bàn; huy động nguồn lực đóng góp từ cộng đồng dân cư,... để thực hiện các nội dung, tiêu chí của xã NTM nâng cao và xã NTM kiểu mẫu.

Ngoài ra, để thực hiện tốt các tiêu chí nâng cao đối với các xã đã đạt chuẩn, tỉnh Thừa Thiên Huế đã kịp thời triển khai mô hình thôn kiểu mẫu, vườn mẫu; Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); xây dựng NTM thôn bản vùng khó khăn;

_______________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Phan Văn Thành, Phong Thu, Phong Điền:

Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi gì?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Theo Điều 6 Luật Hợp tác xã 2012, Điều 24, Điều 25 Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật HTX quy định một số chính sách hỗ trợ đối với HTX, Liên hiệp HTX như sau:

* Chính sách hỗ trợ đối với HTX, liên hiệp HTX:

1. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

2. Chính sách xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường

3. Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới

4. Chính sách tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã

5. Chính sách tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội

6. Chính sách thành lập mới HTX, liên hiệp HTX

* Chính sách ưu đãi sau đây đối với HTX, liên hiệp HTX:

1. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế;

2. Ưu đãi lệ phí đăng ký HTX, liên hiệp HTX theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

* Đối với HTX, liên hiệp HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, ngoài việc được hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi quy định trên còn được hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi sau đây:

1. Hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng được quy định tại Quyết định 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2015-2020.

2. Chính sách giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của HTX, liên hiệp HTX được quy định tại Nghị định 193/2013/NĐ-CP.

3. Chính sách ưu đãi về tín dụng được quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách phục vụ tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn  .

4. Chính sách hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh được quy định tại Nghị định 02/2017/NĐ-CP ngày 09/01/2017.

5. Chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ được quy định tại Nghị định 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018, Quyết định 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp.

Nhằm thực hiện tái cơ cấu trong nông nghiệp, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chương trình mỗi xã mỗi sản phẩm (OCOP)... Căn cứ các quy định của pháp luật, tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành một số chính sách hỗ trợ HTX trong lĩnh vực nông nghiệp:


Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016, trong đó bao gồm hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình, hỗ trợ sản xuất. Chi tiết đề nghị các bạn nghiên cứu thêm tại Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế theo Quyết định số 52/2018/QĐ-UBND, ngày 27/9/2018, trong đó bao gồm: Hỗ trợ thu hút và đào tạo nguồn nhân lực, Hỗ trợ thành lập mới, sáp nhập HTX, liên hiệp HTX,  Hỗ trợ về hoạt động của Hợp tác xã.

Chi tiết đề nghị các bạn nghiên cứu thêm tại Quyết định số 52/2018/QĐ-UBND ngày 27/9/2018 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế..

_________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Uông Ngọc Tân, 103- Lê Sát, Đà Nẵng:

Kính thưa lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi xin gửi 2 câu hỏi đến quý lãnh đạo tại buổi Đối thoại như sau: 

- Hiện nay trong chiến lược phát triển ngành nông nghiệp, tỉnh Thừa Thiên Huế có tính toán như thế nào trong việc giảm thiểu tối đa những tác động của biến đổi khí hậu? 

- Chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế có giải pháp cụ thể hoặc chính sách hỗ trợ như thế nào để tạo đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Về việc giảm thiểu tối đa những tác động của biến đổi khí hậu:

Trong những năm trở lại đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho tình hình thiên tai như bão, lũ, hạn hán, mưa lớn ở Thừa Thiên Huế diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, có chiều hướng gia tăng về cường độ và tần suất, tác động tiêu cực đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân, làm hư hỏng nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật, tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra ngày càng nghiêm trọng.

Nhằm hướng đến mục tiêu của Chương trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Trong những năm qua bằng nhiều nguồn vốn khác nhau của Trung ương và địa phương, tỉnh đã đầu tư, nâng cấp một số tuyến đê trọng yếu phục vụ cho dân sinh, kinh tế và sản xuất nông nghiệp trong vùng bị ảnh hưởng, nhằm chủ động phòng, chống lụt bão, nước biển dâng, hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra; tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng ven biển; đồng thời kết hợp giữa nhiệm vụ ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ khai thác tối đa tiềm năng vùng ven biển, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo hiệu quả. Tính đến cuối năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã đầu tư, nâng cấp được 73,09 km đê, trong đó đang thi công dỡ dang 11,63 km và 41 cống các loại, với tổng mức đầu tư 341.737 triệu đồng, còn lại 107,91 km đê và 133 cống chưa được đầu tư, nâng cấp; trồng rừng chắn sóng được 69,35 ha; sắp xếp bố trí dân cư tại nhiều điểm tập trung phù hợp với tiêu chí phát triển nông thôn mới để đảm bảo cho kinh tế dân sinh, phát triển sản xuất nông nghiệp trong vùng bị ảnh hưởng, góp phần chủ động trong công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư.

Thực hiện Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 13/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị giới thiệu phổ biến và triển khai thực hiện Luật Phòng, chống thiên tai đến tận người dân. Trong giai đoạn từ năm 2011-2018 các đơn vị trong tỉnh đã triển khai khoảng 100 lớp tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng cho khoảng 3.500 học viên là cán bộ và nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh.

Phối hợp với Dự án Sáng kiến và Phát triển địa phương thích ứng biến đổi khí hậu - VIE/033 Luxambourg, hỗ trợ cho 24 xã điểm thuộc huyện Quảng Điền, Phú Vang và Phú Lộc xây dựng Kế hoạch Phòng chống thiên tai cấp xã, qua đó góp phần nâng cao năng lực phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế xã hội bền vững, thực hiện tốt công tác Phòng chống thiên tai theo quy định tại Luật Phòng, chống thiên tai.

Trong khuôn khổ dự án Xây dựng xã hội thích ứng với thiên tai tại Việt Nam - Giai đoạn 3, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 17/QĐ-UBND ngày 04/01/2018 về việc thành lập Ban Quản lý dự án “Vận hành hồ chứa nước trong tình huống khẩn cấp và quản lý lũ hiệu quả bằng hệ thống thông tin quản lý thiên tai toàn diện” do JICA (Nhật bản) tài trợ. Hiện nay, tỉnh Thừa Thiên Huế đang phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) để triển khai dự án “Vận hành hồ chứa nước trong tình huống khẩn cấp và quản lý lũ lụt hiệu quả bằng hệ thống thông tin quản lý thiên tai toàn diện” trên địa bàn tỉnh trong đó tập trung vào các giải pháp đầu tư hệ thống quan trắc khí tượng, thủy văn hiện đại để dự báo, cảnh báo mưa ở lưu vực các hồ chứa thượng nguồn sông Hương, sông Bồ nhằm theo dõi, quản lý vận hành điều tiết các hồ chứa để giảm lũ cho hạ du, bảo đảm an toàn hồ trong mùa mưa lũ, cũng như  tình huống khẩn cấp.

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 3637/QĐ-BNN-HTQT về việc phê duyệt đầu tư Dự án "Tăng cường khả năng chống chịu với những tác động của biến đổi khí hậu cho các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển Việt Nam" do Quỹ Khí hậu xanh (GCF) viện trợ không hoàn lại thông qua Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP). Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định để t chức triển khai các hoạt động về Xây dựng nhà ở chống chịu bão, lụt và Quản lý hệ thống thông tin rủi ro thiên tai. Trong năm 2018, ngành nông nghiệp đã tham mưu, phối hợp với các cơ quan Trung ương và địa phương triển khai hoàn thành 135/571 nhà ở chống chịu bão, lụt cho các hộ gia đình đạt 100% kế hoạch năm.

Một số giải pháp, chính sách hỗ trợ để tạo đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh:

Để nâng cao hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, trên cơ sở Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. 

UBND tỉnh đã có chủ trương và chỉ đạo các Sở Nông nghiệp-PTNT, KHĐT, Tài chính kể từ năm 2019 nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất của chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ ưu tiên cho các dự án liên doanh, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị.

Đối với các xã trong lúc chưa đề xuất được các dự án PTSX liên kết theo chuỗi giá trị, để có cơ sở đề xuất các dự án (mô hình) hỗ trợ PTSX, xã cần phải xây dựng đề án PTSX của xã được UBND huyện, thị xã phê duyệt.

Đề án PTSX của xã phải trên cơ sở đề án, kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp địa phương; phải xác định được sản phẩm chủ lực trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của địa phương; sản phẩm chủ lực phải hướng đến sản xuất hàng hóa, thực hiện Chương trình mỗi xã mỗi sản phẩm.

____________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Hoàng Hải, thị trấn sịa, quảng điền:

Hiện nay tỉnh đang phát động đề án ngày chủ nhật xanh, công tác tuyên truyền đến từng hộ dân bỏ rác đúng nơi quy định đang được đẩy mạnh, tuy nhiên nhưng tại nhiều địa phương lại chưa quy hoạch được những bãi rác tập trung và thiếu đầu tư phương tiện xử lý nên những con sông, ao, hồ, bãi đất trống gần các khu chợ ở nông thôn, các khu đông dân cư sinh sống bị biến thành những bãi rác tự phát gây ô nhiễm môi trường và làm mất vẻ mỹ quan nông thôn. Giải pháp khắc phục tình trạng này như thế nào?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Tỉnh Thừa Thiên Huế đã có Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt tại Quyết định số 1413/QĐ-UBND ngày 23/6/2016. Trong đó, Tỉnh đang tập trung đầu tư 02 Khu xử lý chất thải rắn gồm: Khu xử lý chất thải rắn tập trung Phú Sơn, thị xã Hương Thủy với diện tích khoảng 40 ha; Khu xử lý chất thải rắn Hương Bình, thị xã Hương Trà với diện tích khoảng 40 ha.

Ngày 13/6/2012, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 1065/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 1065/QĐ-UBND). Thực hiện Quyết định số 1065/QĐ-UBND, UBND các huyện, thị xã và thành phố Huế đã xây dựng các Đề án cụ thể phù hợp cho từng địa phương, trong đó có bố trí kinh phí thực hiện Đề án, đầu tư nhân lực, phương tiện phục vụ thu gom chất thải rắn (CTR).

Tình trạng rác thải ở những con sông, ao, hồ, bãi đất trống gần các khu chợ ở nông thôn, các khu đông dân cư sinh sống nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của người dân về giữ gìn vệ sinh môi trường sống còn hạn chế, chưa có thói quen phân loại rác thải tại nguồn.  

Do đó, chính quyền mỗi địa phương cần tăng cường thực hiện công tác tuyên truyền đến người dân, người lao động nhận thức rõ hơn về tác hại của ô nhiễm môi trường, tuyên truyền người dân tham gia tích cực các phong trào do UBND tỉnh và tại địa phương phát động như: phong trào Chủ Nhật Xanh; phong trào Chống rác thải nhựa và “Nói không với túi ni lông sử dụng 01 lần”, các hoạt động nâng cao nhận thức chị em phụ nữ thông qua các buổi làm việc của Hội phụ nữ thôn, xã... từ đó sẽ nâng cao ý thức và hình thành thói quen giữ gìn môi trường xung quanh.

Một số giải pháp khắc phục:

1. Về tuyên truyền:

Việc vận động người dân thực hiện nghiêm túc công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, thu gom đến điểm tập kết đúng quy định đã được các Sở chuyên môn triển khai cụ thể:

- Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế (TRT), Đài Truyền thanh Huế, Báo Thừa Thiên Huế lồng ghép các nội dung tuyên truyền, phát động thực hiện phong trào “Chống rác thải nhựa” vào các chuyên mục “Môi trường và Cuộc sống” phát sóng vào Chủ nhật hàng tuần trên sóng Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế (TRT); chuyên mục “Tài nguyên, môi trường và phát triển” 02 lần/tuần trên Đài Truyền thanh Huế và Báo Thừa Thiên Huế.

- Sở Thông tin và Truyền thông đang dự thảo Quyết định về mạng lưới Ngày Chủ nhật xanh.

2. Công tác quản lý nhà nước về các vấn đề có liên quan

Ngày 29/7/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 1227/STNMT-MT về việc hướng dẫn triển khai xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và quy định về lưu giữ, thu gom, chuyển giao, tập kết chất thải rắn sinh hoạt tại các địa phương. Qua đó, hướng dẫn các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện thu gom và xử lý chất thải rắn của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố Huế nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc vệ sinh môi trường.

Ngoài ra, theo phản ánh, việc đổ rác không đúng nơi quy định thuộc trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương và các Ban quản lý chợ. Về vấn đề này, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác quản lý, giám sát, nâng cao trách nhiệm trong quản lý, thu gom và xử lý CTR sinh hoạt.

Thông qua phần mềm đã được tương thích trên điện thoại di động như Huế - S việc phản ánh về trật tự, an ninh, vệ sinh môi trường đã được cổng thông tin của Trung tâm điều hành Đô thị thông minh tiếp nhận và xử lý kịp thời.

Vừa qua, UBND tỉnh cũng đã ban hành văn bản số 3976/UBND-TN ngày 21/6/2019 về việc hướng dẫn thực hiện xử phạt hành chính các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hy vọng với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền và sự đồng thuận của người dân, tình trạng vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường sẽ sớm được khắc phục.

____________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn hoangvietkha.dt@gmail.com, hoangvietkha.dt@gmail.com: Tỉnh có chính sách gì để hỗ trợ, động viên khen thưởng các đơn vị và cá nhân làm tốt phong trào xây dựng nông thôn mới không ?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Việc hỗ trợ và động viên khen thưởng các đơn vị cá nhân làm tốt phong trào xây dựng nông thôn mới đã được UBND tỉnh quy định tại Kế hoạch số 180/KH-UBND ngày 07/12/2016 về việc tổ chức thực hiện phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Cụ thể:

1. Hình thức khen thưởng.

a) Khen thưởng hàng năm: UBND tỉnh; các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể cấp tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố Huế khen thưởng kết quả thực hiện theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng.

b) Khen thưởng tổng kết phong trào thi đua:

- Thủ tướng Chính phủ khen thưởng: Đối với cá nhân (02 đến 03 cá nhân tiêu biểu là cán bộ trực tiếp chỉ đạo và thực hiện chương trình nông thôn mới các cấp; người dân có nhiều đóng góp, người nông dân có phát minh sáng chế, doanh nhân tiêu biểu…) trong xây dựng nông thôn mới để đề nghị khen thưởng.

- Khen thưởng theo thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh: Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia phối hợp với các địa phương, đơn vị lựa chọn từ 10 đến 15 tập thể và 10 đến 15 cá nhân tiêu biểu (là cán bộ trực tiếp chỉ đạo và thực hiện chương trình nông thôn mới các cấp; người dân có nhiều đóng góp, người nông dân có phát minh, sáng chế, doanh nhân tiêu biểu…) trong xây dựng nông thôn mới để đề nghị khen thưởng theo quy định của pháp luật.

2. Hình thức và mức khen thưởng của Chính phủ và Nhà nước.

Tập thể và các cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc đặc biệt xuất sắc trong việc thực hiện phong trào thi đua được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen hoặc đề nghị Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và thưởng theo quy định hiện hành.

3. Hình thức và mức khen thưởng của UBND tỉnh

Các tập thể và các cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc đặc biệt xuất sắc trong việc thực hiện phong trào thi đua được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen hoặc đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc trình Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và thưởng theo quy định hiện hành.

_________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn tuyentran_75@gmail.com, tuyentran_75@gmail.com: Những ngành công nghiệp chế biến nào được tỉnh tập trung phát triển trong thời gian tới?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Công Thương Nguyễn Lương Bảy:

Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến chiếm gần 50% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp.
Thực hiện đề án phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025 được phê duyệt tại Quyết định số 597/QĐ-UBND, trong thời gian tới, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến. Cụ thể như sau:

1. Nhóm công nghiệp biến thủy hải sản; 

2. Nhóm công nghiệp chế biến các sản phẩm nông sản - đặc sản dựa trên lợi thế của từng địa phương; 

3. Nhóm công nghiệp chế biến lâm sản, tập trung chế biến các sản phẩm có giá trị gia tăng cao; 

4. Nhóm công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản (tập trung chế biến sâu sản phẩm silicat và vật liệu xây dựng).

Định hướng phát triển các sản phẩm về công nghiệp chế biến tập trung vào xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm, trước mắt ưu tiên các sản phẩm có lợi thế về vùng nguyên liệu và các sản phẩm đặc sản, sản phẩm đặc trưng của địa phương.

_________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Tôn thất Lộc, Huyện Nam Đông:

Tôi dự kiến phát triển dự án trồng cây đặc sản, cây ăn quả lâu năm. Thông qua chương trình tôi muốn hỏi hỏi dự án phải có quy mô như thế nào mới được nhà nước cho hưởng chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất của tỉnh?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường:

Căn cứ Khoản 2 điều 4 Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 21/5/2016 của UBND tỉnh Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 - 2020 thì "Dự án phát triển cây ăn quả đặc sản, cây ăn quả lâu năm mới có quy mô tối thiểu 1.000m2 được hỗ trợ 50% kinh phí mua giống, 30% kinh phí mua vật tư, thuốc bảo vệ thực vật năm đầu khi phát triển cây ăn quả đặc sản, cây ăn quả lâu năm mới phù hợp, có hiệu quả; Được hỗ trợ 2.000.000 đ/cây để lập hồ sơ bình tuyển, công nhận cây ăn quả đặc sản đầu dòng.

________________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Văn Thuận, Phú Vang: Xin hỏi tại tỉnh Thừa Thiên Huế việc triển khai mô hình và hiệu quả mô hình "Mô hình cánh đồng mẫu lớn" mang lại trong thời gian qua như thế nào?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Diện tích lúa sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn toàn tỉnh hàng năm khoảng 2.800 ha. Trong đó: Cánh đồng mẫu có liên kết 1.600 ha; Cánh đồng mẫu chưa có sự liên kết 1.200 ha.

Về hiệu quả của Mô hình cánh đồng mẫu lớn đem lại:

- Nông dân tổ chức sản xuất tập trung thành những cánh đồng có diện tích đủ lớn, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa cao.

- Doanh nghiệp có nhiệm vụ cung cấp giống với giá ổn định, hướng dẫn kỹ thuật canh tác để bảo đảm chất lượng, phục vụ sau thu hoạch và bao tiêu sản phẩm theo giá thỏa thuận.

- Bằng mô hình này, doanh nghiệp bảo đảm được chất lượng của sản phẩm, còn nông dân thì yên tâm về đầu ra. 

Trong thời gian tới, để mở rộng xây dựng cánh đồng mẫu lớn, hiệu quả, Sở NN & PTNT sẽ phối hợp với các địa phương chọn vùng, chọn hộ có quy mô sản xuất đủ lớn để sản phẩm tạo ra có tính hàng hóa cao. Trong đó, phải có sự tập hợp những nông dân nhỏ lẻ để hình thành cánh đồng mẫu sản xuất lúa với diện tích rộng hơn; đổi mới hình thức tổ chức sản xuất trên cơ sở liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà khoa học, tạo điều kiện áp dụng những kỹ thuật mới và giải quyết đầu ra ổn định, có lợi cho nông dân...

________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Nguyễn Văn Châu, Thủy Dương, Hương Thủy: Từ khi triển khai đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh cho đến nay, chúng ta đã tổ chức đánh giá tổng thể tình hình triển khai đề án này chưa, và xin hỏi cho đến nay, tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh ta đã đi đến đâu, đã đạt được những gì chúng ta đề ra ban đầu không?

Trả lời của Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang


Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Thừa Thiên Huế được triển khai từ năm 2016 theo Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21/4/2016. Cuối năm 2018, UBND tỉnh đã tổ chức Sơ kết tình hình triển khai thực hiện Đề án.

Một nố kết quả chủ yếu như sau:

1. Về đổi mới cơ chế chính sách.

Xây dựng kế hoạch và các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; hướng dẫn thực hiện chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị; xây dựng cánh đồng lớn; chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, ...

Đã ban hành chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23 tháng 5 năm 2016 của UBND tỉnh).

2. Về đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ; phát triển ngành nghề nông thôn và các hình thức kinh tế hợp tác.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong nông nghiệp. Đã đẩy mạnh chuyển đổi HTX theo Luật HTX năm 2012, tính đến nay toàn tỉnh có 182 HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2012. Tiếp tụctriển khai đề án “Đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp theo kiểu mới giai đoạn 2018-2020”. Phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh có 205 HTX Nông nghiệp hoạt động có hiệu quả.

3. Nâng cao chất lượng đầu tư công, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.

4. Công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và khuyến nông

Các hoạt động chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khuyến nông, khuyến lâm tiếp tục được đẩy mạnh, từng bước ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất các sản phẩm nông nghiệp theo quy mô lớn, có giá trị kinh tế cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Công tác xây dựng mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân đã được triển khai thực hiện hầu khắp trên các vùng, miền của các địa phương. Sự thành công của các mô hình đã giúp người dân cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập, tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.

5. Kết nối thị trường, tổ chức tiêu thụ sản phẩm

Đã tăng cường công tác quản lý, đẩy mạnh sản xuất sản phẩm an toàn, chất lượng.

Thực hiện tốt công tác xúc tiến thương mại và kết nối tiêu thụ sản phẩm; đã xây dựng 10 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, được xác nhận với 15 sản phẩm (Gạo, thịt heo, thịt gà, trứng gà, chuối và rau ăn lá các loại,...).

Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người sản xuất trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

Đến nay, việc thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới của tỉnh đang ở năm thứ 4 của giai đoạn 2016-2020 và đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng, trước hết, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, huy động được nội lực để xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường,... Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2018 theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế đạt 31,4 triệu đồng tăng 1,87 lần so với năm 2013.

Các giải pháp đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong thời gian tới

a) Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong từng lĩnh vực

- Lĩnh vực trồng trọt: Chỉ đạo triển khai thực hiện, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp để hướng dẫn nông dân sản xuất, nâng cao chất lượng, giá trị; trong đó tập trung vào các loại cây trồng có lợi thế của tỉnh  như: Sản xuất lúa gạo chất lượng cao, cao su, sắn công nghiệp, lạc, rau...

- Lĩnh vực chăn nuôi: Xây dựng phương án, giải pháp phát triển đồng bộ về giống, thức ăn, gắn với thị trường tiêu thụ. Tập trung nâng cao chất lượng, sản lượng thịt hơi xuất chuồng, xây dựng chỉ dẫn địa lý các sản phẩm chăn nuôi hàng hóa để thúc đẩy sản xuất nâng cao giá trị và thu nhập cho nông dân.

- Lĩnh vực thủy sản: Đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển các cơ sở sản xuất giống, thức ăn, tập trung phát triển các đối tượng nuôi có lợi thế của tỉnh, như: Tôm chân trắng, cá, cua, nước lợ, nuôi cá nước ngọt,... Rà soát lại cơ cấu nghề, ngư trường khai thác, xác định cơ cấu đội tàu khai thác, từ đó hướng dẫn ngư dân cải hoán tàu thuyền; phát triển đội tàu dịch vụ hậu cần, nâng cao chất lượng sản phẩn gắn với phát triển thị trường tiêu thụ. Chuyển đổi nghề cho ngư dân ở vùng ven biển sau sự cố môi trường biển nhằm đảm bảo an sinh xã hội.

- Lĩnh vực lâm nghiệp: Thực hiện tốt kế hoạch quản lý bảo vệ và phát triển rừng, ưu tiên phát triển trồng rừng gỗ lớn; tăng cường trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng chắn sóng ven biển, đầm phá; Tiếp tục phát triển rừng có chứng nhận FSC.

b) Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông lâm nghiệp thuộc ngành theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo của Trung ương.

c) Tăng cường quản lý nhà nước, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công; thu hút nguồn lực của các thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn.

d) Triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong đó chú trọng triển khai chính sách hợp tác, liên kết trong sản xuất, gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

đ) Đẩy mạnh công tác dạy nghề cho lao động nông thôn cả về nội dung và chất lượng. Trong đó, chú trọng bổ sung các nghề mới phù hợp với thực tiễn sản xuất ở các địa phương, gắn với các vùng nguyên liệu của tỉnh, đặc biệt là các nghề sản xuất, khai thác, chế biến thủy hải sản.

e) Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là các tiến bộ về giống, quy trình sản xuất, bảo quản chế biến, ...

_________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Thanh Pham, Address 6 Peveril Close Kings Park VIC 3021 461 Somerville Road Brooklyn 3012 - billbinhire.com.au - Phone: 0401336010:

Tôi rất muốn đầu tư vào nông nghiệp quy mô lớn ở Thừa Thiên Huế vào những vùng đất trống đồi trọc để phủ xanh và không đụng chạm đến cấu trúc sử dụng đất hiện tại. Tôi có và câu hỏi tôi thắc mắc là, thời hạn thuê đất dài nhất là bao lâu? Sau thời gian miễn giảm tiền thuê đất thì giá thuê đất là bao nhiêu? và căn cứ vào đâu để dự đoán tiền thuê đất sau thời gian miễn giảm? Quyền kéo dài thời hạn thuê đất? Hướng giải quyết như thế nào với với tài sản trên đất khi có quyết định thu hồi đất? Kính mong sự hồi đáp của quý anh chị để cho tôi có cơ hội đóng góp vào sự phát triển của Huế.

Trả lời của PGĐ Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

1. Về thời hạn thuê đất: Tại Điều 126 Luật Đất đai quy định

- Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất.

- Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm.

Đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất không quá 70 năm.

2. Quyền kéo dài thời hạn thuê đất: tại Khoản 3, Điều 126 luật đất đai quy định:

- Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản này.

3. Miễn giảm tiền thuê đất và dự đoán tiền thuê đất sau thời gian miễn, giảm:

Nhà nước cho thuê đất gồm 02 trường hợp: Thuê đất trả tiền hàng năm và trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, với mỗi trường hợp thì có cách tính khác nhau theo hướng dẫn cách tính tiền thuê đất.

a) Thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm
 
Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định 46/2014/NĐ-CP thì tiền thuê đất mà người thuê phải trả được tính theo công thức sau:

Tiền thuê đất phải nộp = (Diện tích phải nộp tiền thuê)   x   (Đơn giá thuê đất)

Trong đó, đơn giá thuê đất được xác định theo từng trường hợp cụ thể:

Trường hợp 1 - Không qua đấu giá

Đơn giá thuê đất hàng năm = 1% x Giá đất tính thu tiền thuê đất.

+ Giá đất để tính thu tiền thuê đất là giá đất cụ thể.

Lưu ý: Tỷ lệ % để tính đơn giá thuê đất có thể dao động từ 0,5 - 3,0 % tùy vào từng khu vực, từng loại đất cho thuê và điều kiện thực tế của địa phương theo quyết định của UBND cấp tỉnh.

Trường hợp 2 - Thuê đất thông qua đấu giá

Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 46/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 135/2016/NĐ-CP) giá thuê đất trong trường hợp thuế đất thông qua đấu giá được tính như sau:

- Đơn giá thuê đất là đơn giá trúng đấu giá của thời hạn một năm.

- Đơn giá trúng đấu giá được ổn định 10 năm, hết thời gian ổn định thực hiện điều chỉnh nhưng mức điều chỉnh không vượt quá 30% đơn giá thuê đất trúng đấu giá hoặc đơn giá thuê đất của kỳ ổn định liền kề trước đó.

Trường hợp 3 - Thuê đất xây dựng công trình ngầm

- Nhà nước cho thuê để xây dựng công trình ngầm nhưng không phải là phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất.

- Đơn giá thuê đất không quá 30% đơn giá thuê đất trên bề mặt với hình thức thuê đất trả tiền, thuê đất hàng năm có cùng mục đích sử dụng. Đơn giá thuê đất này ổn định trong 05 năm.

Trường hợp 4 - Thuê đất có mặt nước

Đơn giá thuê đất có mặt nước được xác định theo 02 phần:

- Đối với phần diện tích đất không có mặt nước: Đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được xác định như trường hợp 1 - Không qua đấu giá cho thuê đất nêu ở phần trên.

- Đối với phần diện tích đất có mặt nước: Đơn giá thuê đất hàng năm không thấp hơn 50% đơn giá thuê đất hàng năm của loại đất có vị trí liền kề có cùng mục đích sử dụng. 

b) Thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
 
Theo điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định 46/2014/NĐ-CP thuê đất trả tiền một lần trong cả thời gian thuê được xác định theo 02 trường hợp:

*.  Trường hợp 1: Thuê đất không mặt nước

Tiền thuê đất phải nộp =  (Diện tích phải nộp tiền thuê)   x    (Đơn giá thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê)
             Trong đó,

          1 - Không thông qua đấu giá

Đơn giá thuê đất thu một lần cho cả thời gian thuê là giá đất cụ thể được xác định theo từng loại đất.

2 - Thuê đất thông qua đấu giá

Đơn giá thuê đất là đơn giá trúng đấu giá của thời hạn thuê đất.

3 - Đất xây dựng công trình ngầm

Đơn giá thuê đất trả một lần cho cả thời gian thuê không quá 30% đơn giá thuê đất trên bề mặt với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có cùng mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất.
         *)  Trường hợp 2: Thuê đất có mặt nước

Tiền thuê đất phải nộp = (Diện tích phải nộp tiền thuê) x (Đơn giá thuê đất có mặt nước thu một lần cho cả thời gian thuê)
           - Đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê không thấp hơn 50% đơn giá thuê đất hàng năm của loại đất có vị trí liền kề có cùng mục đích sử dụng.

- Mức thu do UBND cấp tỉnh quyết định sau khi Sở Tài chính phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và trình lên.

Như vậy, giá thuê đất có mặt nước thu một lần cho cả thời gian thuê thì do UBND từng tỉnh quy định.

c) Số tiền thực nộp phải nộp sau khi được miễn giảm tiền thuê đất:

Tại Điều 4 của Nghị định 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ quy định:

Số tiền sử dụng đất phải nộp = (Giá tính tiền sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất) x (Diện tích đất phải nộp tiền sử dụng đất) – (Tiền sử dụng đất được giảm tại Điều 19 Nghi định 46 ngày 15/5/2014) – ( Tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng được khấu trừ vào tiền sử dụng đất (nếu có)).

4. Giải quyết tài sản trên đất khi có quyết định thu hồi đất: Tại Nghi định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của chính phủ quy định:

“Điều 15b. Thu hồi đất đối với trường hợp chấm dứt hot động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư

Việc thu hồi đất đối với trường hợp chấm dt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và khoản 1 Điều 65 của Luật đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Trường hp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tin một ln cho cả thời gian thuê thì xử lý thu hồi đất như sau:

a) Chủ đầu tư được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư;

b) Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp gn lin với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật.

Khi hết thời hạn 24 tháng được gia hạn tiến độ sử dụng đất mà chủ đầu tư không thực hiện được việc chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp của mình gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai.

2. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm thì xử lý thu hồi đất theo quy định sau đây:

a) Chủ đầu tư được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư;

b) Trong thời hạn 24 tháng kể tngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện bán tài sản hợp pháp gn lin với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật.

Nhà nước thu hồi đất của người bán tài sản gắn liền với đất thuê để cho người mua tài sản thuê;

c) Khi hết thời hạn 24 tháng được gia hạn tiến độ sử dụng đất mà chủ đầu tư không thực hiện được việc bán tài sản hợp pháp của mình gn lin với đất cho nhà đầu tư khác thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai.”

 _______________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Trần Trọng Hướng, thành phố Huế: Tôi xin hỏi việc đưa ứng dụng công nghệ cao trong phát triển nông nghiệp gắn với sản xuất nông nghiệp sạch tại tỉnh sắp tới tập trung hướng phát triển như thế nào? người dân được hỗ trợ những gì khi đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng này.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

- Định hướng về ứng dụng công nghệ cao,phát triển sản xuất nông nghiệp sạch

Theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 của tỉnh Thừa Thiên Huế thì ứng dụng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm nông nghiệp sạch là một trong những quan điểm chủ đạo; cụ thể:

- Trọng tâm của tái cơ cấu là đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng, giá trị cao và thân thiện với môi trường; nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp hàng hóa có lợi thế của tỉnh; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; ưu tiên ứng dụng công nghệ cao, các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến là khâu đột phá nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành, gắn sản xuất với nhu cầu của thị trường nhằm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân;

- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi, vệ sinh an toàn thực phẩm cho người sản xuất và người tiêu dùng; Đổi mới tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác với doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt. Tạo môi trường thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tham gia liên kết theo chuỗi; Lấy địa bàn xã làm cơ sở để chỉ đạo thực hiện tái cơ cấu gắn với xây dựng nông thôn mới.

Một số giải pháp cụ thể:

1. Nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi các quy trình, kỹ thuật tiên tiến, đẩy mạnh đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:

- Đối với trồng trọt: Ứng dụng quy trình cơ giới hoá đồng bộ (từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến); Ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây trồng; Ứng dụng công nghệ cao vào phát triển các vùng sản xuất tập trung nhất là sản xuất rau hoa, cây trồng đặc sản có giá trị cao; Gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến; Phát triển vùng sản xuất rau tập trung, chuyên canh; Rau, hoa trong nhà lưới; Sản xuất chế biến an toàn theo chuỗi, quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP); Triển khai các mô hình tưới tiết kiệm, tưới cây trồng cạn.

- Đối với chăn nuôi: Nghiên cứu phát triển và ứng dụng quy trình chăn nuôi lợn, gà theo tiêu chuẩn VietGAP. Phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại tập trung, hiện đại từ khâu giống, sản xuất, chế biến thức ăn, chăm sóc, giết mổ. Ứng dụng công nghệ cao vào phát triển chăn nuôi, kiểm soát và chăn nuôi an toàn dịch bệnh, xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng công nghệ hầm khí sinh học, sử dụng đệm lót sinh học nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường,...

- Đối với lâm nghiệp: Ứng dụng khoa học công nghệ để hỗ trợ quản lý, bảo vệ và phát triển lâm nghiệp như: GIS, viễn thám, điện tử. Đẩy mạnh áp dụng cơ giới hoá trong trồng rừng, đặc biệt là khai thác rừng trồng. Tập trung hướng dẫn, khuyến khích mở rộng diện tích rừng sản xuất theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (FSC), …

- Đối với thuỷ sản: Mở rộng diện tích ứng dụng quy trình kỹ thuật, công nghệ nuôi thâm canh theo tiêu chuẩn VietGAP; Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nuôi thâm canh một số loại thuỷ sản đặc sản phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh. Chuyển giao công nghệ khai thác hải sản, máy do ngang, thông tin liên lạc tầm xa … đối với tàu cá xa bờ.

2. Tập trung đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất giống.

- Đối với cây nông nghiệp: Đẩy mạnh khảo nghiệm, phát triển đưa vào cơ cấu sản xuất các giống lúa, ngô, lạc, sắn,  rau, quả, …có năng suất, chất lượng cao thích ứng với từng vùng sinh thái của tỉnh. Chủ động tiếp cận và ứng dụng đưa các giống biến đổi gen, giống rau lai F1 vào sản xuất khi được các cơ quan quản lý cho phép. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ nhu cầu trong tỉnh.

- Đối với giống vật nuôi:

+ Tăng cường công tác giống vật nuôi; Tổ chức triển khai các quy định pháp quy về quản lý giống vật nuôi phù hợp điều kiện chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.

+ Tiếp tục triển khai các chương trình cải tạo giống trâu, bò: Thực hiện thụ tinh nhân tạo, cải tiến giống bò lai theo quy hoạch.

+ Nâng cao chất lượng đàn lợn (sinh sản, tỷ lệ nạc và chất lượng thịt) theo hai phương thức: Nuôi lợn ngoại là chủ yếu và lai cải tiến các giống lợn.

+ Tuyển chọn, nhân giống nhân tạo các giống vật nuôi nhập nội có năng suất chất lượng và phù hợp đưa vào nuôi trên địa bàn.

- Đối với cây lâm nghiệp: Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mô, hom để nhân nhanh các giống cây lâm nghiệp mới có tốc độ sinh trưởng cao, chất lượng gỗ tốt, như: Keo tai tượng hạt ngoại, bạch đàn mô,…các loài cây bản địa phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn như: Sao đen, Dầu rái, Sến trung, Huỷnh, Giổi, Lim xanh,... Chú trọng công tác nghiên cứu bảo tồn và phát triển các giống cây lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu.

- Đối với giống thuỷ sản: Hoàn thiện các quy trình sản xuất đảm bảo an toàn sinh học để sản xuất ra giống tốt, giống sạch bệnh một số đối tượng có nhu cầu cao (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, rô phi…). Đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng sản xuất giống, các khu ương nuôi giống tập trung. Chú trọng cải tạo đàn cá bố mẹ; Nhanh chóng ứng dụng, chuyển giao công nghệ sản xuất giống đã nghiên cứu thành công trong nước như: Tôm thẻ chân trắng, sản xuất giống nhuyễn thể, các loài cá biển (cá giò, hồng…)…Tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm để nhập công nghệ sản xuất giống, giống mới, thuỷ sản đặc sản, thuỷ sản đặc hữu cho giá trị kinh tế cao.

3. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng lực và chất lượng chế biến nông lâm thủy sản

Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại. Gắn sản xuất với công nghiệp chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng đối với các sản phẩm có lợi thế của tỉnh như: Cao su, cà phê, lạc, sắn các loại rau, quả; Các sản phẩm chăn nuôi; Thủy sản, lâm nghiệp, dược liệu,…

Về chính sách hỗ trợ:

Nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức phát triển nông nghiệp công nghệ cao; UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 về một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huếgiai đoạn 2016 – 2020. Trong đó Đối tượng áp dụng làcác cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Một số nội dung hỗ trợ cụ thể: “Dự án đầu tư cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có quy mô từ 500 m2 trở lên (đối với trồng trọt);­2.000 m2 (đối với nuôi trồng thủy sản); được hỗ trợ 50% chi phí nhưng không quá 500 triệu đồng/cơ sở để đầu tư xây dựng nhà lưới, nhà bạt; lắp đặt các thiết bị chuyên dùng như hệ thống tưới nhỏ giọt, phun sương, sục khí, xử lý nước cấp, nước thải, ...”. Ngoài ra còn hỗ trợ đường giao thông, hệ thống điện, cấp nước đến hàng rào dự án (Các dự án chưa có các hạng mục này).

Lưu ý: Các dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển của địa phương nơi dự án đầu tư.

_________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Tan Ton That Phuc, Emai: Tan177vn@gmail.com:

TT Huế hiện đang được các Nhà đầu tư bất động sản để ý, vậy Ngành Nông Nghiệp sẽ quy hoạch đất dành cho Phát Triển nông nghiệp như thế nào để đảm bảo sau này Người làm Nông nghiệp vẫn còn đất để sản xuất ? Vấn đề hỗ trợ là năm nào cũng có và nơi nào cũng có, vậy Tỉnh cho biết hiện nay Ngành nông nghiệp đã tập trung phát triển thương hiệu đến các Hộ gia đình/ Hộ kinh doanh cá thể chưa ? Tỉnh có phương án nào để giảm chi phí sản xuất thông qua đầu tư hạ tầng đến nơi sản xuất chưa ? vì khâu vận chuyển lớn sẽ làm tăng chi phí, và máy móc hiện đại sẽ không tham gia vào quá trình sản xuất nếu hạ tầng giao thông phục vụ cho sản xuất không có ?

Trả lời của PGĐ Sở NN và PTNT Hồ Vang:

Về Quy hoạch đất cho phát triển nông nghiệp....

Thời gian qua, không chỉ riêng Thừa Thiên Huế mà rất nhiều địa phương khác vấn đề đầu tư bất động sản đang nóng lên với những giao dịch mua bán, chuyển đổi đất đai hết sức ồ ạt, giá cả tăng quá mức... việc lo ngại đất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp do ảnh hưởng từ vấn đề trên được rất nhiều người quan tâm.

Đối với hoạch đất nông nghiệp của Thừa Thiên Huế, theo Nghị quyết số 72/NQ-CP ngày 6/6/2018 của Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020)của tỉnh tổng diện tích đất nông nghiệp điều chỉnh đến năm 2020 như sau:

STT

Chỉ tiêu sử dụng đất

Năm 2010

Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2020

Diện tích

(ha)

Cơ cấu

(%)

Quốc gia phân bổ (ha)

Tỉnh xác định bổ sung (ha)

Tổng số

Diện tích

(ha)

Cơ cấu

(%)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)= (5)+(6)

(8)

I

Loại đất

 

 

 

 

 

 

1

Đất Nông nghiệp

382.814

76,06

382.868

3.080

385.948

78,73

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

1.1

Đất trồng lúa

 

 

 

 

 

 

...

....

 

 

 

 

 

 

Theo số liệu điều chỉnh quy hoạch đất nông nghiệp như trên thì tổng diện tích và cơ cấu đều tăng so với năm 2010 (Trong đó diện tích Tỉnh xác định bổ sung là 3.080 ha).

Về phát triển thương hiệu…

Cùng với các giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã và đang thực hiện, công tác xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, sản phẩm đặc sản của địa phương luôn được quan tâm hỗ trợ thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu, quảng bá sản phẩm, tham gia các hội chợ, triển lãm sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn cả nước.

Đến nay lĩnh vực nông nghiệp đã xây dựng một số thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa sản phẩm có chất lượng tham gia thị trường trong tỉnh, ngoại tỉnh qua hệ thống siêu thị, kinh doanh tiêu thụ của các doanh nghiệp, HTX,... góp phần tiêu thụ nông sản cho người nông dân như: Thanh trà Huế, Tôm chua Huế, Trà rau má Quảng Thọ, Gạo ngon Thủy Thanh, Gạo ngon Phú Hồ, Gạo hữu cơ Phong Điền, Gạo hữu cơ Quế Lâm, hành lá, kiệu Hương An, Hương Chữ...

Định hướng trong thời gian tới ngành nông nghiệp tiếp tục mở rộng việc hỗ trợ triển khai các dự án xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý đối với các đặc sản, sản phẩm làng nghề, sản phẩm đặc thù của địa phương…

Hỗ trợ xây dựng kiểu dáng công nghiệp, bảo hộ thương hiệu sản phẩm;

Hỗ trợ chuẩn hóa hệ thống quy cách nhãn mác, bộ nhận diện nhãn chung cho các sản phẩm đặc sản của Huế;

Hỗ trợ thiết kế logo, nhận diện thương hiệu (nhãn hiệu, bao bì sản phẩm, kiểu dáng công nghiệp cho các sản phẩm chủ lực);

Hỗ trợ xây dựng quy chuẩn chất lượng, dán tem truy xuất nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm;

Về đầu tư hạ tầng sản xuất nông nghiệp....

Qua tổng kết 10 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn từ những kết quả đạt được đãgóp phần giảm chi phí sản xuất nhờ kết cấu hạ tầng đã được nâng lên rõ rệt, cụ thể như sau:

Trong 10 năm qua tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, trước hết đầu tư về thuỷ lợi gồm các công trình: Hồ chứa nước Tả Trạch; các công trình thuỷ lợi thuộc dự án Tây nam Hương Trà; dự án xây dựng hồ chứa nước Thuỷ Yên, Thuỷ Cam. Hệ thống tưới tiêu cho vùng cát các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, nâng cấp các hồ chứa, xây dựng các trạm bơm công suất lớn, kiên cố hóa 410 km kênh mương. Các công trình nêu trên, đã đưa vào vận hành, phát huy tác dụng, nâng diện tích đất nông nghiệp được tưới từ 70% năm 2008 lên 95% năm 2017; diện tích đất nông nghiệp được tiêu từ 37% năm 2008 lên 41% năm 2017.

Từ năm 2009 đến năm 2017 tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn khu vực nông thôn là 7.516 tỷ đồng; tập trung chủ yếu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo tiêu chí nông thôn mới. Chương trình nông thôn mới bắt đầu triển khai từ năm 2010, tuy nguồn vốn của Chương trình Trung ương bố trí còn thấp; song địa phương đã lồng ghép được 1.072 tỷ đồng thực hiện theo các tiêu chí nông thôn mới xây dựng các công trình thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất, dân sinh kinh tế - xã hội như: giao thông nông thôn, thủy lợi, trường học, y tế, văn hóa,góp phần quan trọng phát triển kinh tế - văn hóa xã hội của địa phương.

Hệ thống giao thông: Các công trình giao thông nông thôn được đầu tư kiên cố hóa, hoàn thành một số tuyến giao thông quan trọng phá thế chia cắt ở vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai như: Xây mới Cầu Tam Giang, tuyến Phong Điền - Điền Lộc, Thuỷ Phù - Vinh Thanh; nâng cấp Tỉnh lộ 4, Tỉnh lộ 10 C, D. Giao thông nông thôn đã được cải thiện đáng kể. Từ 2010 đến 2017 đã đầu tư xây mới và nâng cấp mở rộng hơn 1.200 km đường giao thông nông thôn. Các tuyến đường trục xã, liên xã được trải nhựa hoặc bê tôngến nay toàn tỉnh đã có 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã. Tuy nhiên, các xã vùng đồng bằng, ven biển hệ thống giao thông nội đồng chưa phát triển, nên huy động nguồn lực thực hiện đang là một thách thức lớn của nhiều địa phương.

________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn minhthu_2907@gmail.com, minhthu_2907@gmail.com: Hiệu quả của quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh trong thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Một trong những nội dung trọng tâm của đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệplà đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng, giá trị cao và thân thiện với môi trường; nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp hàng hóa có lợi thế của tỉnh; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; ưu tiên ứng dụng công nghệ cao, các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến là khâu đột phá nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành, gắn sản xuất với nhu cầu của thị trường nhằm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân;

Kết quả thực hiện thời gian qua:

- Đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, sử dụng các giống lúa mới[1] vào sản xuất, nên năng suất, sản lượng các loại cây trồng có hạt tăng cao cụ thể: Sản lượng lương thực có hạt năm 2018 ước đạt 330 nghìn tấn tăng 14,5% so với 2013, riêng thóc đạt 320 nghìn tấn tăng 14,7% so với năm 2013 (năng suất lúa năm 2018 ước đạt 59,3 tạ/ha tăng 10,7% so với năm 2013).

- Diện tích lúa chất lượng cao[2] năm 2018: 15.500 ha chiếm 28,7% diện tích lúa toàn tỉnh, tăng 6.643 ha so với năm 2013. Năng suất ước đạt: 56,5 tạ/ha. Sản lượng ước đạt 87 nghìn tấn. Đã hình thành vùng sản xuất lúa hàng hóa theo mô hình cánh đồng lớn, năm 2018: 4.160 ha (năm 2013: 100 ha), trong đó diện tích cánh đồng lớn có liên kết, hợp đồng của các doanh nghiệp[3] trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm 1.760 ha (70 cánh đồng); cánh đồng lớn chưa có sự liên kết 2.400 ha (96 cánh đồng).

- Ổn định các vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu như: Cao su 9.000 ha, sản lượng mủ khô đạt 6.000 tấn/năm; Vùng nguyên liệu sắn có 7.000 ha, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy sắn của tỉnh chế biến; Vùng nguyên liệu lạc khoảng 3.500 ha.

- Các mô hình ứng dụng theo tiêu chuẩn VietGAP tiếp tục phát triển mở rộng ở các địa phương: Lúa 2.100 ha[4]; rau các loại 88 ha[5]; sản xuất lúa hữu cơ 290 ha. Sản xuất rau, hoa trong nhà lưới, nhà kính 26 mô hình với diện tích gần 21.000 m2.

- Năm 2016, 2017, 2018 toàn tỉnh đã chuyển đổi khoảng1.500 ha đất  lúa kém hiệu quả ở vùng miền núi, bãi ngang ven biển, vùng thiếu nước sang trồng ngô, lạc, rau, hoa và nuôi trồng thủy sản.

- Qua thực hiện tái cơ cấu, lĩnh vực chăn nuôi đã ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật như: Con giống, thức ăn, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng chống dịch bệnh, sử dụng vắc xin phòng bệnh thế hệ mới đã rút ngắn được thời gian nuôi dưỡng, giảm tỷ lệ chết, tăng chu kỳ sản xuất. Người chăn nuôi đã biết chuyển dần từ hình thức quảng canh với quy mô nhỏ mang tính truyền thống, tận dụng, sang sản xuất chăn nuôi hàng hóa chất lượng cao có quy mô vừa và lớn, nhiều cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm theo phương thức thâm canh trang trại, gia trại, áp dụng quy trình chăn nuôi công nghiệp, an toàn sinh học đang được phát triển tại nhiều vùng, địa phương trong tỉnh. Từ đó, đã từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm và sản lượng chăn nuôi.

Ước tổng đàn gia súc gia cầm năm 2018 đạt: Đàn trâu có 22.600 con, tăng 5% so với năm 2013; đàn bò 37.000 con, tăng 75% với năm 2013, trong đó bò lai 23.700 con chiếu 64% tổng đàn; đàn lợn 182.000 con, giảm 8,5%[6] so với năm 2013, trong đó lợn nạc 159.250 con chiếm 87,5% tổng đàn; đàn gia cầm có 2.850 nghìn con, tăng 34% so với năm 2013.

- Môi trường chăn nuôi được bảo đảm hơn, toàn tỉnh đã có 4.768 cơ sở chăn nuôi được xử lý chất thải bằng hầm khí sinh học; 570 hộ sử dụng đệm lót sinh học với diện tích 26.000 m².

- Tậ trung công tác phát triển trồng rừng gỗ lớn; Đến nay đến nay tổng diện tích tham gia trồng rừng gỗ lớn có chứng chỉ FSC trên địa bàn tỉnh 7.000 ha; dự kiến cuối năm 2019 có thêm 1000 ha được cấp chững chỉ FSC . Ngoài ra đã chủ động xây dựng kế hoạch trung hạn phát triển các loại cây trồng dưới tán rừng như: Mây, cây dược liệu, … nhằm tăng thu nhập cho các hộ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng tự nhiên.



[1] Giống lúa mới đã đưa vào sản xuất trong các vụ gần đây như J02, KH1, HN6, NA2, NA6, Hà phát 3..

[2]các giống lúa thuộc nhóm chất lượng cao như HT1, IRi352, BT7, HN6.

[3]Công ty CP Giống cây trồng vật nuôi tỉnh; Công ty CP Vật tư nông nghiệp tỉnh; Công ty TNHH1TV Quế lâm Miền Trung; Công ty Liên Việt.

[4] Vụ Đông Xuân Lúa 1.005,46 ha , vụ Hè Thu 1.096,07 ha (chủ yếu tại các huyện Phong Điền, Phú Vang);

[5] 71 ha (xã Quảng Thọ, Quảng Thành- huyện Quảng Điền) trông các loại rau má, cải, xà lách, rau thơm, ...; 17 ha(Phường Hương An – thị xã Hương Trà) trồng hành lá.

[6]Giá thịt lợn hơi cuối  năm 2017 và đầu năm 2018 giảm mạnh.

Câu hỏi của bạn thanhnhan9x@gmail.com, thanhnhan9x@gmail.com: Những nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp phải thực hiện nào mà UBND tỉnh đang đặt ra hiện nay để tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà theo hướng nâng cao giá trị?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21/4/2016 Về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2016 – 2020; nội dung và các giải pháplà:

Nội dung:

1.Tái cơ cấu trong các lĩnh vực:

a)Nông nghiệp

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị gắn với thị trường trên cơ sở phát huy lợi thế của vùng. Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Đến năm 2020 ổn định diện tích gieo trồng lúa nước 52.000 ha/năm (lúa chất lượng đạt trên 17.000ha); Thanh trà đạt 1.000ha; Sắn công nghiệp 7.500-8.000 ha (hiện tại 6.500 ha sẻ tăng ở huyện A Lưới 1.500 ha); Cao su khoảng13.500ha; Rau, củ, quả an toàn đạt 600ha; Lạc trên 3.600 ha; Ngô đạt 2.500 ha.

- Tái cơ cấu chăn nuôi theo hướng chú trọng phát triển vật nuôi có tiềm năng và lợi thế, tăng nhanh số lượng và chất lượng đàn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả để tăng sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của thị trường; tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị thông qua việc liên kết sản xuất, đảm bảo mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho người chăn nuôi và người tiêu dùng, phát triển chăn nuôi trang trại, công nghiệp.

- Phấn đấu đến năm 2020, đàn trâu 23.460 con, đàn bò 30.000 con, đàn lợn 296.000 con, đàn gia cầm 3,3 triệu con và sản lượng thịt hơi đạt 45.000 tấn/năm (tăng 45% so với năm 2015). Trong đó sản lượng thịt hơi của vật nuôi chủ lực: 43.500 tấn; chiếm 96,8% tổng sản lượng thịt hơi toàn tỉnh. Ong nuôi 5.500 đàn, sản lượng mật ong ước đạt 200 tấn.

b. Lâm nghiệp

Phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh; Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; Góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững. Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường gắn với tái cơ cấu ngành nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập; tăng cường liên kết tiêu thụ lâm sản giữa doanh nghiệp với nông dân.

Củng cố diện tích rừng đặc dụng hiện có; bố trí rừng phòng hộ ở những nơi xung yếu, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ chắn sóng, chắn gió cát ven biển và đầm phá; ưu tiên mở rộng diện tích rừng sản xuất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế; chú trọng công tác giống, đầu tư thâm canh, trồng rừng gỗ lớn để từng bước thay thế dần gỗ rừng tự nhiên phục vụ nhu cầu dân dụng và cung ứng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ. Diện tích đất có rừng toàn tỉnh đến năm 2020 đạt 293.250 ha, trong đó: diện tích rừng sản xuất 122.100 ha.

c. Thủy sản

- Ổn định diện tích nuôi ao hồ hiện có (2.100 ha), phát triển nuôi cá hồ thủy lợi, thủy điện, hồ chứa tự nhiên khoảng 500 - 800 ha, nuôi lồng từ 500 - 1.000 lồng năm 2020.

-Tiếp tục phát triển nuôi trồng các đối tượng thủy sản tạo sản phẩm chủ lực theo nhu cầu của thị trường, phù hợp với điều kiện của từng vùng sinh thái. Tăng cường ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, phát triển các mô hình, phương thức nuôi mới nhằm nâng hiệu quả trong nuôi trồng.

- Phát triển vùng nuôi tôm trên cát lấy tôm thẻ chân trắng là đối tượng sản xuất chủ lực để phục vụ xuất khẩu. Từng bước mở rộng diện tích đạt 900 ha vào năm 2020 với sản lượng nuôi khoảng 13.500 tấn.

- Phát triển khai thác hải sản xa bờ; có hầm bảo quản tiên tiến, hiện đại và có đầy đủ trang bị kết nối định vị vệ tinh; phát triển tàu cá vỏ thép, vỏ vật liệu mới composite… thay thế từng bước tàu cá vỏ gỗ; Tỷ trọng sản lượng hải sản khai thác xa bờ đạt trên 70%.

- Củng cố và phát triển mô hình Đồng quản lý nghề cá trên vùng đầm phá, vùng biển ven bờ, tiến đến quản lý ngư cụ theo hạn ngạch thông qua trao quyền khai thác cho các tổ chức ngư dân.

- Đội tàu dịch vụ khai thác hải sản xa bờ từ 90 CV trở lên được trang bị hầm bảo quản sản phẩm hiện đại, phấn đấu giảm tổn thất sau thu hoạch khai thác hải sản từ 30% hiện nay, xuống dưới 15%; Tiếp tục duy trì và phát huy đội tàu dịch vụ thu mua trên biển và phát triển tàu dịch vụ hậu cần vỏ thép quy mô lớn (30 mét trở lên).

d. Thủy lợi

- Củng cố, phát triển thủy lợi nội đồng, gắn với xây dựng nông thôn mới: Nâng cấp kết cấu hạ tầng thủy lợi nội đồng, đáp ứng tốt các phương thức canh tác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; củng cố tổ chức thủy nông cơ sở bền vững.

- Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi, nâng cao hiệu quả quản lý, Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho các cây trồng cạn chủ lực: Hồ tiêu, cây ăn quả, rau, hoa, ...

2. Tái cơ cấu sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực

- Ưu tiên cao, tập trung phát triển mạnh các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực có lợi thế: Lợn, tôm, rau, hoa các loại.

- Cơ cấu hợp lý các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa khác: Lúa, lạc, sắn công nghiệp, cao su, gỗ nguyên liệu rừng trồng, bò và gia cầm.

3. Phát triển công nghiệp chế biến và ngành nghề nông thôn

Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GHP, GMP, HACCP, ISO,…) tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Phấn đấu đến năm 2020, đạt tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trên 150 triệu USD. Trong đó:

4. Phát triển ngành nghề nông thôn

Tiếp tục phát triển các làng nghề có khả năng lan tỏa, hoạt động tốt; khôi phục và bảo tồn các làng nghề truyền thống đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền; bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống vùng đồng bào dân tộc; đến năm 2020 có thêm 15 - 25 nghề và làng nghề được công nhận nghề, làng nghề và làng nghề truyền thống. Gắn kết chương trình phát triển làng nghề với chương trình phát triển du lịch.

Củng cố và nâng cao năng lực hoạt động các HTX nông nghiệp hiện có, hình thành các tổ chức hợp tác mới theo Luật HTX năm 2012  phù hợp với yêu cầu phát triển của địa phương và xây dựng mô hình liên kết “4 nhà” nhằm đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho hộ nông dân để nâng cao hiệu quả sản xuất.

5. Xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn

Tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng như: Hệ thống giao thông nội đồng kết hợp thủy lợi, giao thông đến vùng sản xuất, hệ thống đường lâm sinh, hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản tập trung, khai thác hải sản và hậu cần nghề cá.

Các gải pháp:

1. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, lựa chọn một số sản phẩm chính có lợi thế để lập dự án làm cơ sở đầu tư phát triển; tăng cường quản lý giám sát, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch

- Tổ chức triển khai có hiệu quả và rà soát, bổ sung các quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được phê duyệt.

- Trên cơ sở tiềm năng, thế  mạnh của địa phương, mỗi huyện lựa chọn ra từ 3 - 4 cây con chủ lực, mỗi xã lựa chọn 2 - 3 cây con chủ lực để ưu tiên phát triển. Trên cơ sở sản phẩm chủ lực được lựa chọn, xây dựng chính sách và các giải pháp đồng bộ để triển khai thực hiện hiệu quả.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.

2. Gắn tái cơ cấu ngành với đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Phấn đấu đến năm 2020 có trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Trong đó tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Ban hành cơ chế, chính sách, làm tốt công tác lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

- Chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị.

- Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống địa phương,... nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở; Tăng cường đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn.

3. Khuyến khích, thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư công

- Tập trung huy động và thực hiện đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Rà soát, phân loại các dự án đầu tư, điều chỉnh phương thức và nguồn đầu tư để thu hút tối đa nguồn lực đầu tư xã hội vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

- Tiếp tục vận động, thu hút đầu tư từ ngân sách, từ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ODA,..), tăng hợp lý tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách tỉnh, dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2016-2020 cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, phục vụ cho sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu là 6.800 tỷ đồng.

4. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo nghề

- Nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi các quy trình, kỹ thuật tiên tiến, đẩy mạnh đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.

- Tập trung đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất giống.

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng lực và chất lượng chế biến nông lâm thủy sản.

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

5. Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và quản lý chất lượng sản phẩm nâng cao giá trị gia tăng

- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, xúc tiến thương mại gắn với từng sản phẩm hàng hoá.

- Hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông sản như: Lúa, rau, bưởi thanh trà, hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre đan,…),…

- Tăng cường công tác quản lý kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm nông sản; Khuyến khích nhân rộng mô hình kiểm soát, quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi, áp dụng triệt để các tiêu chuẩn VietGAP, ISO, HACCP,…

6. Củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ trong nông nghiệp, nông thôn

- Khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn đối với một số sản phẩm có giá trị hàng hóa cao là lợi thế của tỉnh; Tăng cường sự tham gia và trách nhiệm của các bên liên quan đối với mối liên kết của “4 nhà”.

- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành theo hướng cổ phần hóa; Củng cố và phát triển kinh tế hợp tác.

- Đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh tế trang trại, gia trại theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao.

- Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, đổi mới và phát triển mạnh hệ thống dịch vụ theo chuỗi giá trị sản phẩm. Củng cố và phát triển các tổ chức dịch vụ nông nghiệp: Cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, thu hoạch, tiêu thụ và chế biến sản phẩm nông lâm thủy sản; Đẩy mạnh phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá. Khuyến khích đầu tư máy móc, thiết bị cơ giới trong tổ chức dịch vụ nông nghiệp nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch.

7. Cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước

- Đẩy mạnh cải cách hành chính với nội dung trọng tâm là: Sắp xếp, tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn từ tỉnh đến cơ sở, đảm bảo đủ năng lực quản lý ở các cấp, đặc biệt ở cấp xã.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức quản lý nhà nước ở các cấp.

- Tăng cường năng lực cho hệ thống kiểm tra, kiểm nghiệm, thanh tra chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng và nâng cao chất lượng, giá trị hàng hoá.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, dự tính, dự báo tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi để kịp thời tổ chức phòng, chống, dập dịch, đảm bảo an toàn cho sản xuất.

_____________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Trần Văn Khánh, Thuận Thành, Huế: Tại Hội nghị thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp được tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức vào tháng 7 vừa qua, có nói đến việc xây dựng chuỗi sản xuất liên kết theo các nhóm sản phẩm chủ lực của địa phương. Xin cho hỏi tỉnh xác định được các nhóm sản phẩm chủ lực hiện nay của địa phương là gì? Giải pháp phát triển chuỗi liên kết đó trong thời gian tới?

Trả lời của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương

Ngày 13/5/2019, UBND tỉnh Thừa Thiên Huê đã ban hành Quyết định số 1162/QĐ-UBND về danh mục sản phẩm chủ lực tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2019-2020 và giải pháp hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:

Số

TT

Tên

sản phẩm

Giải pháp hỗ trợ

Thời gian thực hiện

Đơn vị chủ trì

Đơn vị phối hợp

I.

Nhóm ẩm thực Huế- Gắn với thương hiệu “Huế - Kinh đô Ẩm thực”

1

Bún bò Huế, cơm chay, cơm hến, bún tươi, các loại bánh, các loại chè Huế

- Xây dựng Đề án phát triển Ẩm thực Huế và Không gian Ẩm thực Huế

2019-2020

Sở Du lịch

Các sở ngành liên quan, các doanh nghiệp

- Xây dựng thương hiệu Huế - Kinh đô ẩm thực (Dự án xin hỗ trợ từ nguồn vốn của trung ương thuộc Chương trình phát triển tài sản trí tuệ/ Hoặc nguồn xã hội hóa)

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Du lịch, các Sở, ngành liên quan

- Xây dựng và quản lý thương hiệu các loại hình ẩm thực đặc trưng Huế (ẩm thực cung đình, ẩm thực dân gian, ẩm thực chay, ẩm thực đường phố, ẩm thực vùng đầm phá…).

2019-2020

Sở Du lịch

Sở Khoa học và Công nghệ, các sở ngành liên quan,các doanh nghiệp

- Xây dựng Đề án phát triển vùng nguyên liệu phục vụ chế biến ẩm thực Huế

2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

Các sở ngành, địa phương liên quan,

Phát triển thương mại nhãn hiệu chứng nhận bún bò Huế (hỗ trợ thực hiện dự án KHCN).

2019-2020

Hiệp Hội Du lịch tỉnh

Sở Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp

- Xây dựng bộ nhận diện Ẩm thực Huế phù hợp với các hình thức quảng bá.

2019-2020

Sở Du lịch

Các sở, ngành liên quan

- Hỗ trợ các loại hình ẩm thực Huế tham gia hội chợ ẩm thực trong nước và quốc tế;

2019-2020

Sở Du lịch

Sở Công Thương và các doanh nghiệp

- Hình thành các tour du lịch thưởng thức các món ăn Huế, các tour khám phá ẩm thực Huế; tour trải nghiệm nghệ thuật chế biến ẩm thực Huế…

2019-2020

Sở Du lịch

Các sở, ngành, địa phương liên quan, các doanh nghiệp

2

Kẹo mè xửng

- Hỗ trợ nghiên cứu công nghệ và chế tạo thiết bị tạo hình khuôn kẹo mè xửng;

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các sở, ngành liên quan, các doanh nghiệp

- Hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (HACCP, ISO, GMP) trong sản xuất kẹo mè xửng;

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các sở, ngành liên quan, các doanh nghiệp

- Hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài - thị trường Thái Lan (đã nộp đơn năm 2018)

2019

Sở Khoa học và Công nghệ

Hội Mè xửng Huế

- Hỗ trợ đổi mới mẫu mã, kiểu dáng, bao bì sản phẩm

2019-2020

Sở Công thương

Các sở, ngành liên quan, các doanh nghiệp

II

Nhóm thủy hải sản - gắn với thương hiệu “Hải sản đầm phá Tam Giang-Cầu Hai”

3

Cá vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai

- Hỗ trợ dự án Xây dựng và quản lý NHCN “Hải sản vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai”

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các sở, ngành, địa phương liên quan, các DN

- Kêu gọi đầu tư phát triển các trung tâm nhân giống hải sản (đang thực hiện nghiên cứu quy trình nhân giống cá nâu, cá ong bầu)

2019-2020

Sở Kế hoạch và Đầu tư

Sở Nông nghiệp và PTNT, các sở, ngành liên quan, các DN

- Rà soát, quy hoạch phát triển vùng nuôi trồng thủy hải sản trên đầm phá Tam Giang-Cầu Hai

2019-2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

Sở Tài nguyên và Môi trường, địa phương liên quan

- Xây dựng Đề án hỗ trợ phát triển nghề nuôi cá lồng ở các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền

2019-2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

Các sở, ngành, các địa phương liên quan

- Hỗ trợ thực hiện các dự án KHCN liên quan đến nhân giống, phòng trợ bệnh, chuyển giao công nghệ phát triển nuôi trồng thủy sản vùng đầm phá

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các sở, ngành, các địa phương liên quan

4

Tôm (tôm thẻ chân trắng, tôm sú)

- Hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GMP, HACCP, ISO) vào quy trình nuôi tôm.

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Nông nghiệp và PTNT; các sở, ngành liên quan;các doanh nghiệp

- Hỗ trợ nhân rộng mô hình nuôi tôm chân trắng theo quy trình công nghẹ cao cho nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp…

2019-2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

Các sở, ngành, địa phương liên quan, các doanh nghiệp

 

Các sản phẩm thủy, hải sản chế biến

 

5

 

Tôm chua

 

- Khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất để chuyển từ sản phẩm thủ công sang sản xuất công nghiệp

2019-2020

Sở Công thương

Các sở, ngành, doanh nghiệp liên quan,

- Hỗ trợ cải tiến mẫu mã bao bì sản phẩm để nâng cao khả năng thương mại hóa sản phẩm

2019-2020

Sở Công thương

Các sở, ngành liên quan, các doanh nghiệp

- Hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GMP, HACCP, ISO,...) vào quy trình sản xuất và chế biến.

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Nông nghiệp và PTNT; các sở, ngành liên quan;các doanh nghiệp

6

Nước mắm, ruốc, mắm các loại

- Hỗ trợ các làng nghề đổi mới công nghệ chế biến

2019-2020

Sở Công thương

Các địa phương liên quan

- Hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GMP, HACCP, ISO,...) vào quy trình sản xuất và chế biến

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Nông nghiệp và PTNT; các sở, ngành liên quan; các doanh nghiệp

- Xây dựng hạ tầng cụm TTCN làng nghề, trong đó có khu phục vụ chế biến thủy hải sản ở các huyện (theo đề án phát triển công nghiệp nông thôn)

2019-2020

Sở Công thương

UBND huyện Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền

- Hỗ trợ quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể đã được bảo hộ.

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các sở, ngành liên quan; các làng nghề.

III

Nhóm sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi

 

 

7

Bưởi thanh trà (Thanh trà Huế)

- Lập đề án phát triển vùng bưởi thanh trà toàn tỉnh.

2019

Sở Nông nghiệp và PTNT

Các sở, ngành, các địa phương liên quan

- Hỗ trợ thực hiện dự án xây dựng và quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý Huế cho sản phẩm bưởi thanh trà

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Nông nghiệp và PTNT, các địa phương liên quan

- Pỗ hát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn VietGap gắn với thương hiệu CDĐL Thanh trà Huế (dự án ODA tại Hương Vân và các dự án của địa phương)

2019-2020

UBND các địa phương liên quan

Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ; HTX NN Hương Vân, BQL Dự án Trường Sơn Xanh

- Hỗ trợ nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật trong khâu chọn giống nhằm tăng nâng cao năng suất và cht lượng sản phẩm.

2019 -2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Nông nghiệp và PTNT, các địa phương liên quan

- Hỗ trợ tổ chức các phiên chợ thanh trà Huế / Lễ hội thanh trà Huế/ Hội thi trái ngon thanh trà Huế

2019 -2020

Sở Công thương

Sở Nông nghiệp và PTNT, các sở, ngành và các địa phương liên quan

8

Lúa, gạo chất lượng cao

- Lập đề án phát triển vùng sản xuất lúa chất lượng cao tập trung ở các huyện, thị xã trọng điểm lúa (Huyện Phú Vang, Phong Điền, Quảng Điền và thị xã Hương Thủy, Hương Trà).

2019-2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

Các sở, ngành, các địa phương liên quan

- Xây dựng và triển khai các mô hình sản xuất lúa hữu cơ/ hoặc mô hình sản xuất lúa đạt chuẩn VietGap tại địa bàn phù hợp

2019-2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

Các sở, ngành, các địa phương, DN, HTX

- Kêu gọi đầu tư nhà máy xay xát gạo đạt tiêu chuẩn sản phẩm xuất khẩu.

2019-2020

Sở Kế hoạch và Đầu tư

Các sở, ngành và địa phương liên quan

9

Rau má tươi, trà rau má

- Hỗ trợ đổi mới mẫu mã, bao bì, đa dạng hóa sản phẩm từ rau má.

2019-2020

Sở Công thương

Sở Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp

Hỗ trợ nghiên cứu công nghệ sản xuất trà rau má dạng bột và trà rau má đóng chai.

2020

Sở Khoa học và Công nghệ

HTX NN Quảng Thọ, Sở Công thương;

- Hỗ trợ nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống cây rau má tại huyện Quảng Điền

2017-2019

Sở Khoa học và Công nghệ

Viện Công nghệ Sinh học, Sở NN và PTNT, UBND huyện Quảng Điền, các HTX

- Hỗ trợ áp dụng mở rộng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap

2019-2020

Sở Nông nghiệp&PTNT

UBND huyện Quảng Điền, các doanh nghiệp, HTX

10

Sen Huế

- Hỗ trợ thực hiện dự án “Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen gốc của Sen Huế” (Dự án KHCN đang thực hiện)

2017-2019

Sở Khoa học và Công nghệ

Đại học Huế, các địa phương liên quan

- Hỗ trợ nghiên cứu xác định nguyên nhân gây chết cây sen lấy hạt tại tỉnh Thừa Thiên Huế và biện pháp phòng trừ

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Viện Công nghệ Sinh học, Sở NN và PTNT

- Xây dựng đề án phát triển vùng nguyên liệu Sen Huế

2019-2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

Các địa phương liên quan

- Hỗ trợ thực hiện đề tài “Nghiên cứu quy trình tăng thâm canh cho Sen Huế”

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Nông nghiệp và PTNT, các doanh nghiệp

- Hỗ trợ thực hiện dự án “Tạo lập, quản lý và phát triển NHTT Sen Huế” (Hội Nông dân tỉnh đang xây dựng thuyết minh nhiệm vụ)

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Hội Nông dân tỉnh, các địa phương liên quan, các doanh nghiệp

- Kêu gọi đầu tư trung tâm cung ứng giống Sen Huế

2019-2020

Sở Kế hoạch và Đầu tư

Các doanh nghiệp; các Trung tâm, doanh nghiệp KHCN của Đại học Huế

11

Bò, thịt bò

- Nâng cấp, xây dựng mới các cơ sở giết mổ tập trung;

2019-2020

UBND huyện Phong Điền, huyện A Lưới

Các sở, ngành, các địa phương liên quan

- Đề xuất áp dụng một số chính sách hỗ trợ phát triển đàn bò theo mô hình nông hộ

2019-2020

UBND các huyện Phong Điền, A Lưới, Phú Lộc

Các sở, ngành, các địa phương liên quan

- Đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến có quy mô phù hợp.

2019-2020

UBND huyện Phong Điền, A Lưới

Các sở, ngành, các địa phương liên quan

- Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thịt bò vàng A Lưới.

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

UBND huyện A Lưới; các doanh nghiệp

IV

Nhóm sản phẩm dược liệu

 

 

 

 

 

 

 

12

 

 

 

 

 

Tinh dầu tràm, tinh dầu sả và các loại tinh dầu từ dược liệu.

- Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KHCN để cải tiến hệ thống chưng cất nhằm nâng cao hiệu quả trong chiết xuất tinh dầu tràm và các loại tinh dầu khác

2018-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các sở, ngành, các địa phương liên quan, các doanh nghiệp

- Thực hiện dự án xây dựng và phát triển chỉ dẫn địa lý Huế cho sản phẩm dầu tràm Huế (dự án hỗ trợ của Trung ương)

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các địa phương liên quan, các DN

- Xây dựng vùng nguyên liệu tràm gió thiên nhiên gắn với chỉ dẫn địa lý dầu tràm Huế tại Phong Điền (Dự án ODA)

2019-2020

Công ty TNHH 1TV Tinh dầu Hoa Nén

Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ; BQL DA Trường Sơn Xanh.

- Lập đề án phát triển vùng nguyên liệu cây tràm gió tại các huyện

2019-2020

Sở Nông nghiệp và PTNT

UBND các huyện Phú Lộc, Phong Điền

- Đầu tư cải thiện khả năng thương mại hóa các sản phẩm dầu tràm

2019-2020

Các doanh nghiệp

Sở Công thương

IV

Nhóm sản phẩm thủ công mỹ nghệ

 

 

13

Áo dài Huế

- Kêu gọi đầu tư điểm trình diễn áo dài Huế gắn với trải nghiệm nghề may áo dài Huế/ Trung tâm dịch vụ SXKD Áo dài Huế đạt chuẩn, có tính chuyên nghiệp cao.

 

Sở Kế hoạch và Đầu tư/ UBND TP Huế

Các sở, ngành liên quan, các DN, các nhà đầu tư tiềm năng

- Thành lập Hội nghề sản xuất kinh doanh áo dài Huế

2019 - 2020

UBND TP Huế

Sở Nội vụ; các DN, cơ sở may đo áo dài Huế trên địa bản tỉnh

- Hỗ trợ thực hiện dự án Xây dựng, quản lý và phát triển NHTT Áo dài Huế

2019 - 2020

Sở Khoa học và Công nghệ

UBND TP Huế, các DN

14

Vải Dèng

- Hỗ trợ thực hiện dự án Xây dựng, quản lý và phát triển NHTT vải Dèng A Lưới (đang thực hiện – dự kiến công bố Văn bằng bảo hộ NHTT vào tháng 5/2019)

2018-2019

Sở Khoa học và Công nghệ

UBND huyện A Lưới, các DN

- Hỗ trợ quảng bá phát triển thương hiệu, nâng cao khả năng thương mại hóa sản phẩm vải Dèng A Lưới

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Sở Công thương, UBND huyện A Lưới, các DN, HTX

- Hỗ trợ phát triển sản phẩm vải Dèng làm quà tặng lưu niệm phục vụ du lịch

2019-2020

UBND huyện A Lưới

Sở Công thương, Sở Du lịch, các DN

15

Mây tre, mộc mỹ nghệ

Hỗ trợ phát triển sản phẩm quà tặng lưu niệm phục vụ du lịch

2019-2020

Sở Công thương

Sở Du lịch, các DN

Hỗ trợ xây dựng, quảng bá NHTT của một số làng nghề mộc mỹ nghệ

2020

Sở Khoa học và Công nghệ

Các địa phương liên quan; các Sở Du lịch, Công thương

Hỗ trợ quản lý và phát triển NHTT Mây tre Bao La

2019-2020

Sở Khoa học và Công nghệ,

Sở Du lịch, Sở Công thương; HTX mây tre Bao La

16

Đúc đồng

- Lập đề án nghiên cứu giải pháp đầu tư khôi phục và phát huy hoạt động của Trung tâm trưng bày giới thiệu sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống Huế

2019-2020

UBND Tp Huế

Sở Công thương, Sở Du lịch, các DN

- Hỗ trợ phát triển sản phẩm quà tặng lưu niệm phục vụ du lịch từ sản phẩm đúc đồng

2019-2020

Sở Công thương

Các doanh nghiệp

Câu hỏi của bạn Võ Thị Khương, TP Huế: Trên địa bàn tỉnh hiện có bao nhiêu HTX nông nghiệp, hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp này như thế nào?

Trả lời của Chủ tịch liên minh HTX tỉnh Trần Lưu Quốc Doãn

- Đến 30/7/2019, toàn tỉnh có 271 HTX, trong đó có 190 HTX nông nghiệp, 74 HTX phi nông nghiệp, 07 Quỹ TDND đang hoạt động. 

- Trong 190 HTX nông nghiệp (tăng 08 HTX so với năm 2018) trong đó có 172 HTX dịch vụ nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi...), 08 HTX thủy sản, 10 HTX lâm nghiệp.

- Tổng số thành viên ước đạt 115.651 thành viên, trong đó số thành viên mới là 700 thành viên.

- Tổng số lao động thường xuyên ước đạt 38.560 người, tăng 700 lao động so với năm 2018, trong đó số lao động đồng thời là thành viên HTX ước đạt 37.274 thành viên, tăng 700 thành viên so với năm 2018.

- Trong 6 tháng đầu năm thành lập mới 12 HTX (chỉ tiêu 25-30 HTX), bao gồm 06 HTX lâm nghiệp bền vững: Phong Sơn, Thượng Nhật, Hương Phú, Lộc Hòa, Lộc Thủy, Hòa Tiến; 06 HTX khác: Tân Thành, Rượu sim A Lưới, Luyện Nhân, Dịch vụ du lịch Nhị Hồ, Cao su Nam Đông, Chế biến nông hải sản xã Vinh An.

Kết quả hoạt động các HTX nông nghiệp như sau:

- Các HTX nông nghiệp đã tập trung làm tốt các dịch vụ hỗ trợ thành viên, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ, tập trung vào các khâu dịch vụ như: thủy lợi, bảo vệ thực vật, giống, làm đất, thu hoạch... . Các HTX đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm, đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ mới để tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Ngoài ra các HTX tích cực mở rộng thêm một số dịch vụ mới mới như: quản lý rừng bền vững theo hướng rừng có chứng chỉ, sản xuất chế biến nước mắm, ép dầu lạc, rượu... góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho thành viên và người lao động.

- Trong lĩnh vực lâm nghiệp, chủ yếu là tập trung làm dịch vụ hỗ trợ thành viên. Tổ chức sản xuất trồng rừng theo hướng khai thác gỗ lớn nhằm nâng cao giá trị sản phẩm gỗ,  mô hình vườn ươm cây keo được đầu tư cơ bản và có hiệu quả  HTX như ở các HTX Nam Sơn, HTX Hòa Mỹ và HTX Phù Bài...

- Hoạt động của các HTX thủy sản chủ yếu tập trung vào hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ nghề cá và chế biến thủy hải sản. Mô hình sản xuất chế biến nước mắm ở Phú Thuận và các xã ven biển và vùng đầm phá đang tích cực chuyển đổi mô hình, hướng đến thành lập các HTX chuyên dịch vụ chế biến thủy sản gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm.

- Đánh giá phân loại HTX theo Thông tư số 09/2017/TT-BNNPTNT ngày 17/4/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, toàn tỉnh có 144 HTX có số liệu báo cáo. Số HTX còn lại chủ yếu mới thành lập hoặc sáp nhập...
- Về kết quả xếp loại HTX nông nghiệp có: 26/144 HTX xếp loại tốt (chiếm 18%), HTX xếp loại khá có 51/144 HTX (chiếm 36%), HTX xếp loại trung bình có 61/144 HTX (chiếm 42%) và có 06/144 HTX xếp loại yếu (chiếm 4%). 

_____________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Võ Đại Dũng, 46/10 Nguyễn Hữu Cảnh, phường An Tây, TP.Huế:

Để tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp sạch, Xin hỏi tỉnh có những chính sách ưu đãi gì và có giải pháp gì cho đầu ra của sản phẩm nông nghiệp sạch. Trân trọng!

Trả lời của Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức phát triển nông nghiệp công nghệ cao; UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 về một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 - 2020. Trong đó Đối tượng áp dụng là các cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Về nội dung giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông sản sạch; UBND tỉnh chủ trương khuyến khích phát triển các mô hình chuỗi liên kết sản phẩm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Đến cuối năm 2018, trên địa bàn tỉnh, đã hình thành 10 chuỗi cho 15 sản phẩm nông sản sạch ( Gạo, thịt heo, thịt gà, trứng gà, chuối và rau ăn lá các loại,...); trong thời gian tới, tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới về hỗ trợ các mô hình phát triển sản xuất; tiếp tục xây dựng thêm các mô hình liên kết, tiêu thụ sản phẩm nông sản sạch tại một số địa phương như tại Quảng Điền 10 chuỗi; Phong Điền 4 chuỗi ...

_________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn thanhp@billbinhire.com.au, email: thanhp@billbinhire.com.au: Tôi cần rất nhiều hecta (vài trăm ha) đất trống đồi trọc để đầu tư làm nông nghiệp (cụ thể là trồng cây ăn trái lâu năm, và trồng xen cây ngắn ngày để cải tạo đất) thì nên bắt đầu từ đâu (liên hệ cơ quan nào)?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Căn cứ khoản 1 điều 5 Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016 của UBND tỉnh “Quy định về Trình tự thủ tục thực hiện, giám sát, quản lý dự án đầu tư và xây dựng không sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” thì Doanh nghiệp có nhu cầu giới thiệu thông tin địa điểm đầu tư dự án gửi đề nghị đến Cơ quan tiếp nhận hồ sơ gồm: Cơ quan đăng ký đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp (Sở Kế hoạch và Đầu tư) - Văn phòng UBND tỉnh, UBND cấp huyện, Ban Quản lý Khu vực phát triển đô thị tỉnh.

Bản đề nghị của doanh nghiệp soạn theo mẫu tại Phụ lục III kèm theo số 26/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016 của UBND tỉnh. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ thông báo kết quả cho doanh nghiệp bằng văn bản.

______________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn hongngoclan@gmail.com, hongngoclan@gmail.com: Qua theo dõi trong lĩnh vực nông nghiệp, tôi nhận thấy sản phẩm nông nghiệp của tỉnh ta phần lớn chưa trở thành hàng hóa, một số sản phẩm có sản lượng lớn như Thanh trà, nhãn... chủ yếu xuất bán sản phẩm thô chưa qua chế biến. Xin cho hỏi tỉnh đã tìm ra giải pháp gì giúp người nông dân sản xuất sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường?

Trả lời của Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang

Những năm gần đây sản lượng thanh trà ở Thừa Thiên Huế tăng nhanh, hiện toàn tỉnh đã có 1.100 ha. Để hỗ trợ cho người dân trồng, tiêu thụ và nâng cao hiệu quả sản phẩm thanh trà, thời gian qua Tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp như: hỗ trợ xây dựng thương hiệu "Thanh trà Huế" việc đăng ký thương hiệu đã giúp có đầu ra ổn định; Quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ trong cả nước. Hiện, quả thanh trà Huế đã được bán ở 14 đại lý, siêu thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. 

Chính việc xây dựng thương hiệu "Thanh trà Huế" đã tạo động lực cho người dân tích cực hơn nữa trong việc chăm sóc, phát triển thanh trà để nâng cao đời sống và xúc tiến quảng bá du lịch cho địa phương. Mặt khác, tỉnh Thừa Thiên Huế đã hợp tác với các doanh nghiệp du lịch tổ chức mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái.(như tổ chức lễ hội Thanh trà vào mùa thu hoạch hàng năm để thu hút du khách )..., 

_____________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Phan Thị Thúy, Hải Châu, Đà Nẵng: Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn có được nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà ở xã hội cho người lao động không?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Quang Cường

Căn cứ khoản 5 điều 13 Nghị số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ quy định một số cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư bổ sung của Nhà nước và quy định trình tự, thủ tục thực hiện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Sở Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

"Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn có 100 lao động trở lên làm việc thường xuyên tại nhà máy, được hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người lao động mức hỗ trợ là 01 triệu đồng/m2 xây dựng đối với nhà cấp IV, hỗ trợ 02 triệu đồng/m2 xây dựng đối với nhà 02 tầng trở lên".

____________________________________________________________________________

Câu hỏi của bạn Phan Văn Toàn, thành phố Huế: Tỉnh có quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp không? Tôi vào trang web của tỉnh tìm nhưng không thấy có?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Vang:

Trước ngày 01/01/2019, thời điểm Luật Quy hoạch có hiệu lực thi hành, ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế đã có 7 quy hoạch, trong đó:

* Có 4 quy hoạch bị bãi bỏ tại Quyết định số 375/QĐ-UBND ngày 14/02/2019 của UBND tỉnh, gồm:

1. Quy hoạch phát triển nghề truyền thống và làng nghề trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, định hướng đến năm 2025;

2. Quy hoạch cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Thừa Thiên Huế, giai đoạn 2012-2020;

3. Quy hoạch hệ thống nghiên cứu chuyển giao, sản xuất, cung ứng giống nông lâm thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020;

4. Quy hoạch phát triển khai thác hải sản và hậu cần nghề cá tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

* Và 3 quy hoạch hiện nay vẫn còn hiệu lực (chưa bị bãi bỏ) gồm: 

1. Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2009-2020;

2. Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025, định hướng đến năm 2035;

3. Quy hoạch bố trí, ổn định dân cư giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2015 tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hiện nay, sau khi nghiên cứu rà soát, cập nhật các cơ sở pháp lý và tình hình thực tế, Sở Nông nghiệp và PTNT đang đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư có phương án tích hợp vào nhiệm vụ Quy hoạch tỉnh các quy hoạch của ngành NN & PTNT để có cơ sở triển khai thực hiện, cụ thể như sau:
1. Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050
2. Quy hoạch bố trí, ổn định dân cư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050
3. Quy hoạch phát triển nghề truyền thống và làng nghề trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050
4. Quy hoạch thủy lợi và phòng chống thiên tai tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ năm 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
5. Quy hoạch phát triển thủy sản, hệ thống cảng cá, phát triển các vùng sản xuất thủy sản tập trung tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
6. Quy hoạch chăn nuôi, cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050
7. Quy hoạch phát triển nông nghiệp và phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

______________________________________________________________

Buổi đối thoại trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế của lãnh đạo tỉnh với chủ đề "Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp" đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và trong cả nước, rất nhiều câu hỏi đã được gửi về hộp thư của Ban biên tập và đường dây nóng của BTC.

Qua 2 giờ đối thoại, lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành đã trả lời thẳng thắn, đầy trách nhiệm những câu hỏi của cá nhân, tổ chức gửi tới buổi đối thoại. Tuy nhiên, do điều kiện thời gian nên còn rất nhiều câu hỏi được tiếp nhận nhưng chưa thể trả lời trực tiếp đến bạn đọc tại buổi đối thoại; BTC đã tổng hợp lại đầy đủ, và tiếp tục trả lời sau kết thúc đối thoại. Kính mời quý vị bạn đọc tiếp tục theo dõi nội dung trả lời tại chuyên mục “Trao đổi và tháo gỡ” trên Cổng Thông tin điện tử Thừa Thiên Huế (địa chỉ www.thuathienhue.gov.vn).

Hiện nay, do thời gian chương trình đối thoại trực tuyến đã hết, nên có một số câu hỏi của các bạn chúng tôi chưa kịp trả lời tại buổi đối thoại, chúng tôi sẽ tiếp tục trả lời sau buổi đối thoại này, mong các bạn sau chú ý theo dõi:

Bạn Trần Trọng Hướng - thành phố Huế; Bạn đọc có email: thanhnhan9x@gmail.com; Bạn đọc có email: minhthu_2907@gmail.com; Bạn Huỳnh Văn Quang - thành phố Huế; Bạn TanTonThat Phuc - Emai: Tan177vn@gmail.com

*********

Vâng, thưa ông Nguyễn Văn Phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh trước khi kết thúc buổi đối thoại chắc hẳn ông cũng có đôi điều muốn chia sẻ cùng bạn đọc, xin mời ông:

PHÁT BIỂU BẾ MẠC CỦA PHÓ CHỦ TỊCH UBND TỈNH NGUYỄN VĂN PHƯƠNG TẠI BUỔI ĐỐI THOẠI 

(ngày 15/8/2019)

Kính thưa quý vị, qua 2 giờ đối thoại, đã có rất nhiều câu hỏi của người dân, tổ chức và doanh nghiệp gửi đến chương trình và đã được Lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ngành có liên quan tập trung trả lời, giải đáp một cách chu đáo đầy trách nhiệm.

Qua nghe các ý kiến, câu hỏi, phản ánh của quý vị gửi về chương trình, chúng tôi nhận thấy bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì công tác xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh nhà cũng còn nhiều việc phải làm, đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và cả cộng đồng người dân.

Với việc xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng, vì vậy, trong thời gian tới, Tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm và chỉ đạo các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan nỗ lực hơn nữa, sớm khắc phục những bất cập, những tồn tại mà quý vị đã nêu lên tại buổi đối thoại này.

Bên cạnh đó, với mong muốn cùng người dân làm giàu từ nông nghiệp trên chính những lợi thế sẵn có của địa phương; phát triển nông nghiệp tỉnh nhà theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung; ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng; Tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo khai thác những tiềm năng, thế mạnh, của địa phương để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là những sản phẩm nông nghiệp an toàn, chất lượng, ứng dụng công nghệ cao. Thực hiện các giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, giá trị cao tại các vùng sinh thái; đẩy mạnh xây dựng các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; chú trọng đào tạo nhân lực quản trị và lao động có kỹ thuật, tay nghề cao phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng, phát triển nông thôn theo yêu cầu mới; đồng thời, phát triển các loại hình du lịch trải nghiệm, du lịch sinh thái, lịch sử, văn hóa, tâm linh tại vùng nông nghiệp, nông thôn của tỉnh; đảm bảo các nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng nông thôn mới của tỉnh trong thời gian tới.

Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự chung tay của toàn xã hội thì thời gian đến, nền nông nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ có những chuyển biến tích cực; công tác xây dựng nông thôn mới sẽ đạt được nhiều kết quả to lớn hơn nữa và hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra.

Một lần nữa, thay mặt lãnh đạo tỉnh, xin cám ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và trực tiếp tham gia buổi đối thoại hôm nay!