Cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn, tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển

Thực hiện Quy chế tổ chức đối thoại trực tuyến trên môi trường mạng giữa lãnh đạo tỉnh với cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 1834/QĐ-UBND ngày 17/9/2013 của UBND tỉnh. Hôm nay, ngày 16/11/2016, tại Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao cùng với lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư (ông Hoàng Việt Trung, Phó Giám đốc) và lãnh đạo Cục Thuế Thừa Thiên Huế (ông Phạm Minh Kiên, Phó Cục trưởng) sẽ đối thoại trực tuyến với cá nhân, tổ chức với chủ đề Cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn, tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển”.

Buổi đối thoại được truyền hình trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế (www.thuathienhue.gov.vn) và trên website của Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh (www.trt.vn).

Quý vị quan tâm xin mời gửi câu hỏi đến Ban Biên tập qua địa chỉ thư điện tử: bbt.ubnd@thuathienhue.gov.vn và gọi điện thoại qua đường dây nóng 054.362.9999, hoặc gửi trực tiếp tại chuyên mục “Trao đổi và tháo gỡ” trên trang chủ của Cổng Thông tin điện tử Thừa Thiên Huế.

Vâng, thưa ông Nguyễn Văn Cao, Chủ tịch UBND tỉnh, trước khi bắt đầu đối thoại ông có điều gì chia sẻ cùng với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp đang theo dõi và tham gia buổi đối thoại trực tuyến hôm nay không ạ? 

PHÁT BIỂU KHAI MẠC CỦA CHỦ TỊCH UBND TỈNH NGUYỄN VĂN CAO

(tại buổi đối thoại về “Cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn,

tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển”)

 

Xin chào tất cả các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân đang theo dõi và tham gia buổi đối thoại trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế hôm nay.

Kính thưa quý vị!

Năm 2016 là năm khởi nghiệp doanh nghiệp, là năm tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, là năm tạo động lực tăng số lượng doanh nghiệp trên cơ sở cải cách thể chế chính vì vậy Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, rất nhiều các giải pháp ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đã được các Nghị quyết đề ra với quyết tâm giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp trở thành động lực mới của tăng trưởng kinh tế.

Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2016 được xác định là "Năm doanh nghiệp", để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, lãnh đạo tỉnh đã có nhiều chương trình, kế hoạch và các giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích và thúc đẩy khởi nghiệp; đồng thời tạo mọi thuận lợi để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút các nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư chiến lược đến đầu tư và kinh doanh tại tỉnh nhà.

Mặc dù kết quả bước đầu đã có sự chuyển biến, nền kinh tế của tỉnh đã có mức tăng trưởng, nhiều chỉ tiêu về phát triển doanh nghiệp, về khởi nghiệp, về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp đã có những kết quả nhất định. Song việc triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa thực sự đem lại nhiều hiệu quả như kỳ vọng. Bên cạnh đó, giữa năm 2016, cùng với một số tỉnh Bắc Trung Bộ, Thừa Thiên Huế phải đối mặt với sự cố môi trường biển đã làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đời sống của người dân, nhất là đối với hoạt động du lịch biển và đánh bắt hải sản. Đây là những vấn đề làm lãnh đạo tỉnh hết sức trăn trở trong thời gian qua.

Để kịp thời giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp liên quan đến cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư của tỉnh, thủ tục hành chính, chính sách thuế, hải quan, những bất cập trong hoạt động sản xuất kinh doanh... cũng như tiếp thu ý kiến phản ảnh về hành vi, thái độ ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan hành chính nhà nước đối với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong thực thi công vụ; hôm nay, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức buổi đối thoại trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử tỉnh chủ đề “Cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn, tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển”. Trên tinh thần trao đổi, cầu thị và hết sức trách nhiệm, kiên quyết xử lý những người vi phạm, không né tránh, không bao che, chúng tôi sẵn sàng tiếp nhận và giải đáp những kiến nghị, vướng mắc của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân gửi về buổi đối thoại này một cách thỏa đáng, đáp ứng sự mong mỏi, quan tâm của quý vị. Chúng tôi rất mong nhận được sự tham gia tích cực của quý vị để buổi đối thoại đạt kết quả cao.

 

 


Bắt đầu đối thoại
Câu hỏi của bạn Nguyễn Khoa Tri, Phong Điền, Thừa Thiên Huế:

Trong thời gia gần đây ngành công nghiệp chế biến khoáng sản cát trắng trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Tỉnh Thừa Thừa Thiên Huế. Vậy cho tôi hỏi: 

1. Tính tới thời điểm hiện tại Tỉnh Thừa Thiên Huế đã có những cơ chế, chính sách nào liên quan đến lĩnh vực hoạt động kinh doanh, chế biến và xuất khẩu khoáng sản cát trắng trên địa bàn? 

2. Định hướng của Tỉnh trong những năm tới đói với lĩnh vực này? 

Tôi xin cảm ơn!

Trả lời của Sở Công Thương:

1. Về cơ chế, chính sách

Về cơ chế:

Trong những năm qua, Chính phủ và các Bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực khai thác khoáng sản, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế luôn xem trọng ngành công nghiệp chế biến khoáng sản cát trắng góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh Thừa Thiên Huế, tuy nhiên theo hướng khuyến khích đầu tư các dự án chế biến sâu khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường; Chỉ xuất khẩu sản phẩm chế biến từ khoáng sản có giá trị kinh tế cao đối với một số loại khoáng sản có quy mô lớn; Quy hoạch, xây dựng các khu khai thác, chế biến tập trung tạo các sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Yêu cầu cơ sở chế biến khoáng sản phải có bộ máy nhân lực được đào tạo, đủ năng lực vận hành thiết bị công nghệ và kiểm soát chất lượng sản phẩm; sử dụng thiết bị, công nghệ chế biến tiên tiến, hiện đại phù hợp với đặc điểm chế biến của từng loại khoáng sản để nâng cao tối đa hệ số thu hồi sản phẩm khoáng sản chế biến, có mức độ phát thải đạt tiêu chuẩn và quy chuẩn về môi trường. Chế biến khoáng sản chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong nước, chỉ xuất khẩu sản phẩm sau chế biến có giá trị kinh tế cao đối với khoáng sản quy mô lớn.

Để phục vụ nhu cầu phát triển KTXH nói chung, ngành công nghiệp nói riêng, Tỉnh Thừa Thiên Huế đã xây dựng Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu công nghiệp Phong Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong đó định hướng là khu công nghiệp tổng hợp, chủ yếu bố trí các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao, công nghiệp nhẹ, công nghiệp sạch, ưu tiên cho ngành sản xuất và chế biến cát.

Thực hiện chủ trương kêu gọi đầu tư, hạn chế xuất khẩu thô khoáng sản chưa qua chế biến, UBND tỉnh đã có Công văn số 3399/UBND-NĐ ngày 01 tháng 7 năm 2008 về việc hướng dẫn quy trình giải quyết thủ tục đầu tư hoạt động khoáng sản, đồng thời trong công văn UBND tỉnh ban hành 8 nhóm sản phẩm chế biến bắt buộc đối với cát thạch anh khai thác trên địa bàn tỉnh. Ngày 23/9/2011 UBND tỉnh có Công văn số 4139/UBND-CN về việc danh mục các sản phẩm chế biến sâu từ cát thạch anh, ban hành danh mục 18 nhóm sản phẩm chế biến bắt buộc đối với cát thạch anh khai thác trên địa bàn tỉnh thay thế 8 nhóm sản phẩm tại Công văn số 3399/UBND-NĐ. Hiện tại UBND tỉnh đang chỉ đạo điều chỉnh bổ sung danh mục các sản phẩm chế biến sâu cát trắng để phù hợp với các cơ sở pháp lý, quy trình công nghệ, nhu cầu thị trường, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường mới.

Về chính sách:

- Về chính sách ưu đãi hỗ trợ đầu tư chung

Căn cứ vào các quy định của Nhà nước về đầu tư, Thừa Thiên Huế khuyến khích và có chính sách thu hút đầu tư, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước có vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn.

Ưu đãi về đất đai: Dự án đầu tư vào các Khu công nghiệp được thuê đất với mức ưu đãi như sau: Giá thuê đất có hạ tầng tại khu công nghiệp (KCN) Phú Bài: 0,32 USD/m2/năm. Giá thuê đất tại các KCN khác: tuỳ theo điều kiện hạ tầng được áp dụng mức giá sàn, thấp nhất theo qui định chung.

Ưu đãi về thuế: Cơ sở sản xuất thành lập trong KCN được hưởng mức thuế suất 15% trong thời gian 12 năm kể từ khi dự án đầu tư bắt đầu hoạt động kinh doanh; Được miễn thuế 03 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo.

Dự án đầu tư kinh doanh và phát triển hạ tầng KCN; Dự án doanh nghiệp chế xuất được hưởng thuế suất 10% trong thời gian 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động kinh doanh; Được miễn thuế 04 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Chính sách một giá: Áp dụng chính sách một giá đối với các loại phí: giá nước sạch, nước thô, phí thu gom rác, phí xây dựng và các loại phí khác thuộc thẩm quyền quyết định của UBND tỉnh. Hỗ trợ kinh phí đào tạo: Nhà đầu tư được hỗ trợ tối đa 30% kinh phí đào tạo nâng cao tay nghề lần đầu hoặc đào tạo lại khi thay đổi dây chuyền công nghệ cho công nhân trực tiếp sản xuất tại các trung tâm dạy nghề trong nước. Trường hợp tự đào tạo theo hợp đồng chuyển giao công nghệ tại đơn vị hoặc phải gửi công nhân ra nước ngoài đào tạo, nhà đầu tư cũng được hưởng chính sách trên, nhưng mức hỗ trợ chỉ tương đương với mức hỗ trợ đào tạo tại các trung tâm dạy nghề trong nước.

Các doanh nghiệp thực hiện xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như ISO 9000, ISO 14000, SA8000, HACCP, GMP được hỗ trợ 30% kinh phí tư vấn và chứng nhận mà doanh nghiệp phải chi trả theo hợp đồng được cơ quan có thẩm quyền thẩm định.

Các doanh nghiệp, cá nhân tham gia đăng ký bản quyền nhãn hiệu hàng hóa, bản quyền phát minh sáng chế... được hỗ trợ 50% kinh phí phải chi trả theo hợp đồng được cơ quan có thẩm quyền thẩm định.

Cũng theo quy định mới, các loại hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài và ngược lại, hay hàng hóa từ khu phi thuế quan chuyển sang hoặc bán cho các khu phi thuế quan khác... sẽ không thuộc diện chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Hàng hóa được sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp tại khu phi thuế quan được áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi CEPT nếu đủ điều kiện theo quy định hiện hành.

- Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại KCN Phong Điền

Riêng KCN Phong Điền được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ vào tháng 7 năm 2009, với diện tích 400 ha, hướng tới mở rộng 700 ha vào năm 2020. 

Diện tích đất quy hoạch KCN nằm bên cạnh mỏ cát thạch anh với diện tích 3.800 ha, chất lượng tốt và được Thủ tướng Chính phủ cho phép khai thác, chế biến các sản phẩm từ cát. Giá cho thuê lại đất tại KCN Phong Điền: 0,5 USD/m2/năm; phí hạ tầng: 0,15 USD/m2/năm. KCN Phong Điền ưu tiên đầu tư phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, bao bì, chế biến nông lâm sản, cơ khí, dệt may, giày da... Đến với KCN Phong Điền, nhà đầu tư sẽ được hưởng đầy đủ các chính sách ưu đãi chung của Chính phủ và chính sách ưu đãi riêng của tỉnh. Thủ tục đầu tư được thực hiện "một cửa" tại chỗ tại Ban quản lý Khu kinh tế, công nghiệp tỉnh.

Để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào KCN Phong Điền, trong năm 2012, Ban quản lý Khu kinh tế, công nghiệp tỉnh đã xây dựng đề án, đầu tư một số hạng mục cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đến với KCN Phong Điền. Mặt bằng, đường giao thông, điện chiếu sáng, hệ thống thoát nước và xử lý nước thải... nhằm đảm bảo tính đồng bộ cho kết cấu hạ tầng KCN.

KCN Phong Điền đã xây dựng một nhà máy xử lý nước thải tập trung, công suất 5.000 mét khối/ngày đêm, với tổng kinh phí khoảng 28 tỷ đồng. BQL khu kinh tế, công nghiệp tỉnh và UBND huyện Phong Điền phối hợp đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Khu C của KCN Phong Điền, nhằm sớm giao đất cho các chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ cho các hoạt động tại KCN.

2. Định hướng của tỉnh trong những năm tới đối với lĩnh vực cát trắng

Quan điểm khai thác, chế biến cát trắng phải phát triển bền vững đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh đến năm 2020 và các năm sau, UBND tỉnh xác định mục tiêu:

- Việc khai thác, sử dung hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguyên liệu cát trắng phục vụ cho chế biến sâu.

- Khai thác và chế biến phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội và bảo vê môi trường làm tiêu chuẩn cơ bản để quy định đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến phù hợp để thu hồi tối đa khoáng sản, sản phẩm đạt chất lượng cao.

- Ưu tiên các dự án đầu tư khai thác khoáng sản cát trắng gắn liền với chế biến sử dụng khoáng sản cát trắng để làm ra sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả kinh tế xã hội.

- Ưu tiên bảo đảm nguồn nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất trong tỉnh, trong từng thời kỳ có chính sách xuất khẩu và tiêu thụ trong nước phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế xã hội.

Định hướng:

- Danh mục các sản phẩm bắt buộc chế biến sâu từ cát trắng hiện tại được UBND tỉnh ban hành bao gồm 18 nhóm sản phẩm có giá trị kinh tế cao, loại thấp nhất có giá trị cao hơn gấp 10 lần so với cát thô đã qua tuyển rửa tại mỏ.

- Căn cứ các chính sách của Trung ương, tỉnh Thừa Thiên Huế định hướng ưu tiên chế biến các sản phẩm: Linh kiện thạch anh; Vật liệu sản xuất linh kiện điện tử: Chất bán dẫn, vật liệu từ cứng, vật liệu từ mềm, chất cách điện tích cực; Màn hình các loại; Khuôn mẫu, đồ gá: Khuôn dập, khuôn đúc, đồ gá gia công, đồ gá kiểm tra; Các loại khuôn mẫu: Khuôn mẫu có độ chính xác cao, khuôn đúc nhựa có độ chính xác cao;...

- Khuyến khích phát triển các sản phẩm công nghệ cao liên quan đến sản phẩm cát thạch anh: Màn hình độ phân giải cao; Linh kiện bán dẫn điện tử công suất thế hệ mới; Vi mạch điện tử tích hợp (IC); Khuôn mẫu kỹ thuật có độ chính xác cao; Vật liệu có độ tinh khiết cao sản xuất bằng công nghệ chiết với quy mô công nghiệp; Vật liệu nano cao cấp cho công nghiệp, nông nghiệp, y tế, sinh học và môi trường;...

- Khuyến khích đầu tư Nhà máy sản xuất bao bì thủy tinh cao cấp; nhà máy sản xuất thủy tinh phục vụ ngành y tế, dược phẩm và gia dụng; Nhà máy thủy tinh chất lượng cao (sản phẩm thủy tinh gia dụng chịu nhiệt như khay, nồi thủy tinh chịu nhiệt); nhà máy chế biến cát tinh khiết; Nhà máy sản xuất thủy tinh lỏng; nhà máy sản xuất thủy tinh trang trí, thủy tinh pha lê...

Câu hỏi của bạn Vũ Đình Trọng, Phường Vĩnh Minh, TP Huế: Tôi được biết, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hầu như là từ trung bình đến yếu do khâu giới thiệu, quảng sản phẩm bá quá yếu, mặc dù chất lượng sản phẩm khá tốt. Cho hỏi tỉnh có giải pháp hỗ trợ gì cho doanh nghiệp trong vấn đề này?

Trả lời của Sở Công Thương:

Đa phần các doanh nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế có quy mô vừa và nhỏ nên năng lực cạnh tranh và triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá sản phẩm còn hạn chế. Để hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương trong việc giới thiệu, quảng bá sản phẩm; Sở Công Thương triển khai nhiều chương trình, hoạt động như:

- Thực hiện quảng bá, giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm doanh nghiệp thông qua website Sở Công Thương (www.itradetthue.gov.vn) tại chuyên mục thông tin doanh nghiệp và Cổng thương mại điện tử Sản phẩm Huế (www.sanphamhue.com.vn và www.sanphamhue.vn).

- Tổ chức và giới thiệu doanh nghiệp tham gia một số hội chợ, triển lãm chuyên ngành trong nước.

- Thực hiện Chương trình tháng bán hàng khuyến mại; tổ chức các phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn, miền núi nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm doanh nghiệp tỉnh đến người tiêu dùng vùng nông thôn, miền núi.

- Tổ chức các chương trình kết nối và tham gia các hội nghị kết nối quảng bá tiêu thụ sản phẩm tại các tỉnh thành trong nước.

- Tổ chức một số nội dung theo Chương trình số 57/CTr-UBND ngày 22/4/2016 của UBND tỉnh về phát triển thị trường sản phẩm đặc sản Huế giai đoạn 2016 - 2020.

Các đơn vị quan tâm đề nghị liên hệ Sở Công Thương Thừa Thiên Huế thông qua Trung tâm Khuyến Công và Xúc tiến thương mại Thừa Thiên Huế (02 Tôn Đức Thắng, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế) - Điện thoại: 0543.810216 - 837840 để được tư vấn.

Câu hỏi của bạn Lê Tấn Hanh, Nguyễn Sinh Cung:

Thưa quý lãnh đạo tỉnh! Trong tình hình phát triển của tỉnh nhà hiện nay bên cạnh những thành tựu thì vẫn còn những hạn chế, chậm phát triển của KTXH tỉnh nhà, cụ thể như:

- Các khu công nghiệp, các dự án đầu tư của tỉnh chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh về chính sách, nguồn lực, sự năng động, thân thiện, trách nhiệm và hiếu khách của các cấp hữu quan, cộng đồng... nên chưa có đột phá để thu hút nhiều nhà nhà đầu tư lớn mạnh.

Xin cho biết chủ trương của tỉnh trong thời gian tới để khắc phục hạn chế này.

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Xác định năm 2016 là “Năm doanh nghiệp Thừa Thiên Huế”, ngày 30/12/2015 UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 145/KH-UBND về Kế hoạch hoạt động “Năm doanh nghiệp Thừa Thiên Huế 2016”, với mục tiêu căn bản: nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của doanh nhân, doanh nghiệp trong cộng đồng, khơi dậy tinh thần doanh nghiệp; thúc đẩy tăng trưởng mạnh về số lượng, chất lượng và năng lực cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp. Thay đổi một cách cơ bản cách thức kêu gọi đầu tư và tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, minh bạch để doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực của mình, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2016 và những năm tiếp theo, cụ thể như sau:

- Về công tác xúc tiến đầu tư: Trong những năm qua, công tác xúc tiến đầu tư luôn được tỉnh quan tâm, cụ thể ngay từ đầu năm 2016, tỉnh đã tập trung đổi mới công tác kêu gọi đầu tư và hỗ trợ đầu tư, đã chỉ đạo các ngành xây dựng cơ sở dữ liệu, tập trung phân tích lợi thế so sánh, định hướng phát triển để xác định những ngành, những thị trường và đối tượng cụ thể cần tập trung kêu gọi đầu tư. Tổ chức các đợt xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hướng đến các nhà đầu tư cụ thể để kêu gọi đầu tư, không tổ chức xúc tiến đầu tư dàn trải như thời gian trước đây. Đặc biệt vào ngày 20/7/2016, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế có Kết luận số 14-KL/TU về đổi mới nâng cao hiệu quả đầu tư và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư giai đoạn 2016-2020, hiện tại các sở ngành, địa phương đang xây dựng kế hoạch để triển khai trong thời gian đến.

- Về hỗ trợ doanh nghiệp: Nhằm thu hút đầu tư vào tỉnh ngoài các chính sách ưu đãi theo quy định hiện hành của nhà nước, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 01/2013/QĐ-UBND ngày 05/01/2013 quy định một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế với quan điểm nhà đầu tư được hưởng mức ưu đãi cao nhất trong khung quy định của pháp luật; trên cơ sở chính sách này thời gian vừa qua UBND tỉnh bố trí kinh phí hỗ trợ một số hạng mục hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp (điện thi công, nước, giao thông, nước thải,…) để đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm tạo mặt bằng cho các nhà đầu tư đến đầu tư sản xuất.

Bên cạnh đó, ngày 25/12/2015, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 142/KH-UBND về việc triển khai chương trình phát triển hạ tầng kinh tế-kỹ thuật công nghiệp năm 2016, trong đó tập trung phát triển các hạ tầng giao thông đối ngoại như đường cao tốc La Sơn-Túy Loan; quốc lộ 49B, 49A; cầu cảng số 3, cảng Chân Mây-Lăng Cô,…nhằm tạo thuận lợi cho giao thông kết nối với vùng kinh tế trọng điểm Miền trung.

Bước vào năm 2016 khi một số Luật mới và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực như Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, nhằm cụ thể và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp áp dụng các quy định mới này UBND tỉnh ban hành Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016 quy định trình tự thủ tục thực hiện, giám sát, quản lý dự án đầu tư và xây dựng không sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Câu hỏi của bạn Trần Quang Hào, Công ty Lữ Hành Huetourist và ông Lê Tân - công ty TNHH Phú Đạt Gia:

Hiện nay việc các tuyến bus nội tỉnh trên các cung đường tại Thừa Thiên Huế chưa phù hợp, chưa hỗ trợ khách du lịch tại các điểm tham quan và đầu nối giao thông: nhà ga, sân bay. Giá cước cao so với mặt bằng chung tại các tỉnh thành khác trong nước. Ví dụ: từ Phú Bài đi Huế là 50.000đ/ 13 km trong khi đó theo như chúng tôi biết chuyến Nội Bài – Hà Nội: 30.000 đ, Liên Khương đi Đà Lạt: 35.000đ

Trả lời của Sở Giao thông vận tải:

Theo quy định của pháp luật, việc xác định giá cước là do doanh nghiệp tính toán, xây dựng và phải kê khai giá cước với cơ quan có thẩm quyến trước khi thực hiện giá cước trong kinh doanh. Do chưa thực hiện xong các thủ tục nên doanh nghiệp chưa kê khai đăng ký với Sở GTVT.

Việc các đơn vị phản ánh giá cước 50.000đ/HK từ Phú Bài về 20 đường Hà Nội và ngược lại là đúng với thực tế và cao so với một số địa phương. Với chức năng quản lý nhà nước về vận tải trên địa bàn, Sở GTVT sẽ phối hợp với Sở Tài chính tiến hành kiểm tra khi đơn vị này đăng ký kê khai giá cước. Nếu thấy không phù hợp sẽ yêu cầu đơn vị tính toán lại giá cước để kinh doanh có hiệu quả, đồng thời có trách nhiệm hỗ trợ khách du lịch khi đến tham quan Huế theo chủ trương của UBND tỉnh.

Câu hỏi của bạn Tuyết Nhung, lttnhung159@gmail.com:

Tôi có 2 nội dung xin được lãnh đạo tỉnh giải đáp:

1. Thừa Thiên Huế là một tỉnh có nhiều tiềm năng và thuận lợi nhưng thời gian qua, công tác thu hút đầu tư FDI còn quá khiêm tốn. Hầu hết các dự án FDI đang hoạt động tại tỉnh chưa có quy mô lớn, nên thu ngân sách tỉnh chưa cao. Xin hỏi lãnh đạo tỉnh có giải pháp gì để đẩy mạnh việc thu hút đầu tư FDI vào tỉnh nhà?

2. Xin cho biết quy hoạch cũng như giải pháp để phát triển các khu công nghiệp của tỉnh trong thời gian tới của tỉnh?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

1. Về đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển và kêu gọi đầu tư nhưng xét theo góc độ thuận lợi thì chưa phải tỉnh có điều kiện thuận lợi đặc biệt là hạ tầng giao thông đối ngoại, quy mô dân số và nền kinh tế ở mức bình quân chung của cả nước, tuy nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được một số thành tựu về thu hút đầu tư nước ngoài đã tạo ra động lực phát triển và thu ngân sách của tỉnh cụ thể sau:

Luỹ tiến đến nay trên địa bàn tỉnh có 92 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,65 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện trên địa bàn 908,326 triệu USD, chiếm 34,3% trong tổng vốn đầu tư đăng ký. Với kết quả đó, hiện nay tỉnh Thừa Thiên Huế đứng thứ 25 của toàn quốc, đứng 4/5 vùng kinh tế trọng điểm Miền trung và xếp thứ 6/13 của miền Trung Tây Nguyên về thu hút đầu tư nước ngoài. Các dự án lớn tạo động lực phát triển kinh tế xã hội tỉnh như dự án Nhà máy bia Carlsberg Việt Nam công suất 410 triệu lít/năm, Nhà máy xi măng Luks 2,4 triệu tấn/năm, Nhà máy vỏ lon bia Baosteel, tổ hợp nuôi và chế biến tôm thẻ chân trắng của Công ty Chăn nuôi C.P, dự án nhà máy may HBI, Scavi,... đã giải quyết hàng chục nghìn lao động; dự án du lịch Laguna lớn nhất khu vực Miền trung (tổng mức đầu tư dự kiến 2 tỷ USD), khách sạn Kinh thành (La residence)…

Trong 11 tháng đầu năm 2016, tỉnh Thừa Thiên Huế đã cấp mới 09 dự án, cấp điều chỉnh tăng vốn 02 dự án với tổng vốn đăng ký tăng thêm 23,5 triệu USD.

Năm 2015 và bình quân hàng năm, các doanh nghiệp FDI có doanh thu đạt 650 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ, nộp ngân sách 1.500 tỷ đồng (tương đương 68 triệu USD), chiếm gần 30% thu ngân sách của địa phương. Tạo công ăn việc làm cho 17.500 lao động.

Tuy nhiên có thể nói việc thu hút đầu tư vào tỉnh cũng chưa đạt được như mong muốn. Trong thời gian tới, phát huy hơn nữa các tiềm năng lợi thế, tranh thủ thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, tỉnh Thừa Thiên Huế đề ra các giải pháp nhằm thu hút nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài:

- Cải thiện môi trường đầu tư: Tỉnh đã tập trung cả hệ thống chính trị trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng việc cải cách hành chính, xúc tiến, hỗ trợ nhà đầu tư cụ thể UBND tỉnh đã xây dựng đề án và Tỉnh ủy đã ban hành Kết luận số 14-KL/TU ngày 20/7/2016 về đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư và công tác xúc tiến đầu tư giai đoạn 2016-2020; UBND tỉnh đã thành lập Tổ công tác hỗ trợ nhà đầu tư 24/24 và ban hành các kế hoạch cụ thể để hỗ trợ nhà đầu tư; bước đầu đã tạo được niềm tin với các nhà đầu tư lớn của Việt Nam như Vincom, Bitexco, Nguyễn Kim, BRG.. nhà đầu tư nước ngoài như Tập đoàn Bampu Thái Lan, Tập đoàn SPH của Tây Ban Nha (đầu tư 150 triệu USD vào dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Vinh Thanh) và nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản…

- Tập trung xúc tiến, thu hút đầu tư vào một số thị trường trọng điểm như: Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Đức... cùng với việc kết nối trực tiếp các nhà đầu tư lớn, có uy tín, phù hợp với định hướng phát triển KTXH của tỉnh.

- Đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng khung, đặc biệt là hệ thống hạ tầng phục vụ kết nối quốc gia, quốc tế như: mở rộng, nâng cấp cảng hàng không Quốc tế Phú Bài, đê chắn sóng cảng Chân Mây, đường cao tốc Cam Lộ - La Sơn - Tuý Loan (đường La Sơn - Nam Đông, đường vành đai 3, đường kết nối từ trung tâm đến sân bay Phú Bài, hạ tầng kỹ thuật kết nối đến các khu vực trọng điểm phát triển: khu công nghiệp, khu kinh tế, các khu du lịch Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An...).

- Đổi mới trong công tác hỗ trợ nhà đầu tư: tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính; hỗ trợ, đồng hành cùng nhà nhà đầu tư trong việc thực hiện các thủ tục liên quan đến dự án từ bước nghiên cứu địa điểm, lập dự án, đến các thủ tục đền bù, thuê đất, xây dựng, triển khai dự án (theo Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND).

- Phát triển nguồn nhân lực: Chỉ đạo các cơ quan đào tạo nghề trên địa bàn  chủ động phối hợp các doanh nghiệp, nhà đầu tư đào tạo theo địa chỉ sử dụng, phù hợp định hướng phát triển, tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho dự án mới; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, kỹ năng, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

2. Về quy hoạch cũng như giải pháp để phát triển các khu công nghiệp của tỉnh trong thời gian tới của tỉnh:

Hiện nay, tỉnh có 07 khu công nghiệp với tổng diện tích đất quy hoạch hơn 2.700 ha trong đó có 06 khu công nghiệp độc lập với tổng tiện tích quy hoạch là 2.150 ha và 01 khu công nghiệp trong Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô.

Các khu công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế được quy hoạch tại các vị trí chiến lược gần đường Quốc lộ 1A, đường sắt, sân bay Quốc tế, cảng nước sâu, có địa hình tương đối bằng phẳng và ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt là điều kiện lý tưởng cho các nhà đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất kinh doanh lâu dài.

Tính đến nay, tại các khu kinh tế, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 137 dự án, tổng vốn đăng ký 63 nghìn tỷ đồng, vốn thực hiện đạt 17 nghìn tỷ đồng, chiếm 27% tổng vốn đăng ký. Tại các khu công nghiệp đã thu hút được 99 dự án đầu tư, tổng vốn đăng ký 24 nghìn tỷ đồng, vốn thực hiện 8,7 nghìn tỷ đồng chiếm 36% tổng vốn đăng ký.

Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp:

- Khu công nghiệp Phú Bài giai đoạn I&II đạt 98,5%;

- Khu công nghiệp Phú Bài giai đoạn IV, GĐ 1 đạt 8,9%;

- Khu công nghiệp Phong Điền khu A đạt 33%;

- Khu công nghiệp Phong Điền khu B và khu B mở rộng đạt 74%;

- Khu công nghiệp La Sơn đạt 20,9%;

- Khu công nghiệp Tứ Hạ đạt 1,2%;

- Khu công nghiệp Phú Đa đạt 42,5%

Ngoài các giải pháp chung đã nêu ở phần trên, trong thời gian tới chú trọng một số giải pháp sau:

- Tập trung đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư có uy tín, năng lực (Amatar -Thái Lan; Visip - Singapore; và các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc..) đầu tư vào hạ tầng khu công nghiệp, vì đằng sau họ là một chuỗi các nhà đầu tư thứ cấp, đặc biệt tại Khu công nghiệp khu phi thuế quan Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô gắn với cảng nước sâu Chân Mây; Khu công nghiệp Phú Bài…

- Phát triển khu công nghiệp hỗ trợ dệt may tại Khu công nghiệp Phong Điền đáp ứng nhu cầu tự chủ nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị sản phẩm dệt may cho khu vực. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên cát trắng theo hướng chế biến sâu thành những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

- Huy động các nguồn lực đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật đến chân hàng rào các khu công nghiệp; hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải, chất thải cho các khu công nghiệp và hệ thống hạ tầng xã hội như: nhà ở công nhân, nhà trẻ, trường học, khu vui chơi giải trí, thể dục thể thao để tạo điều kiện trong việc thu hút người lao động đến các khu công nghiệp cũng như đảm bảo an sinh xã hội nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định sản xuất kinh doanh.

- Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong công tác thẩm định cấp phép đầu tư, giám sát dự án đầu tư vào khu công nghiệp đảm bảo các dự án được cấp phép có công nghệ tương đối hiện đại, không ô nhiễm; đảm bảo các yêu cầu về môi trường, không xung đột với lợi ích chung của cộng đồng. 

Câu hỏi của bạn Nguyễn Nguyễn, Nguyễn Hữu Cảnh, Huế:

Công ty chúng tôi thuê nhà của một hộ tư nhân để làm trụ sở, tiền thuê nhà một năm là 96 triệu đồng. Xin chương trình giải đáp hai vấn đề sau:

- Chủ Nhà cho thuê có phải nộp thuế TNCN và GTGT không?

- Cá nhân cho thuê nhà có được cơ quan thuế cấp hóa đơn đỏ để cung cấp cho Công ty chúng tôi không? 

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Tại Khoản 25 Điều 4 Thông tư số 16/2015/VBHN-BTC ngày 17/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật thuế Giá trị gia tăng quy định đối tượng không chịu thuế GTGT là:

“25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống”.

Tại  Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2015 của BTC hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân về  người nộp thuế:

“2. Người nộp thuế nêu tại khoản 1 Điều này không bao gồm cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.

Tại khoản 1 Điều 13 Thông tư số 17/2015/TT-BTC  ngày 17/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định về cấp hoá đơn do Cục Thuế đặt in như sau:

1. Cơ quan thuế cấp hóa đơn cho các tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng.

Trường hợp tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc thuộc trường hợp không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng thì cơ quan thuế không cấp hóa đơn”.

Căn cứ vào các quy định được trích dẫn trên, công ty có thuê nhà của một hộ tư nhân làm trụ sở, số tiền thuê nhà là 96 triệu đồng/năm (từ 100 triệu đồng/năm trở xuống) thuộc đối tượng không chịu thuế TNCN & GTGT nên chủ nhà không phải nộp thuế TNCN & thuế GTGT.

- Hoạt động cho thuê nhà nêu trên có số tiền thuê nhà là 96 triệu đồng/năm (từ 100 triệu đồng/năm trở xuống) thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nên không được cơ quan thuế cấp hóa đơn đỏ (hóa đơn lẽ).

Câu hỏi của bạn Bùi Minh cường, Vỹ Dạ, Huế:

Theo tôi được biết, những năm qua chỉ số PCI của tỉnh liên tục bị tụt hạng. Xin cho biết việc tụt hạng này có nguyên nhân từ đâu và lãnh đạo tỉnh có giải pháp gì để khắc phục?

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Những năm vừa qua chỉ số PCI của tỉnh có sự giảm sút về tổng điểm và tụt vị thứ xếp hạng, năm 2013 tỉnh xếp thứ 2 với tổng điểm 57,12; năm 2014 xếp thứ 12/63 tỉnh thành với tổng điểm 59,98 và năm 2015 xếp hạng 29/63 với tổng điểm là 58,52 điểm; nguyên nhân vị thứ xếp hạng PCI giảm chủ yếu do các chỉ số: Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Thiết chế pháp lý; Tính minh bạch; Chi phí không chính thức giảm về thứ hạng.

Nguyên nhân cụ thể được tổng quan như sau:

Chỉ số Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước giảm do giảm sút số lượng doanh nghiệp cho rằng phí, lệ phí được công khai; thủ tục giấy tờ đơn giản, doanh nghiệp không cần đi lại nhiều lần để lấy dấu và chữ ký. Ngoài ra còn do nguyên nhân doanh nghiệp mất nhiều thời gian hơn cho việc làm việc với thanh tra, kiểm tra thuế cũng như thanh tra các ngành.

Chỉ số Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất giảm bậc do những lo ngại về rủi ro về thu hồi đất, gặp khó khăn trong tiếp cận đất đai và mở rộng mặt bằng kinh doanh và giảm sút về tỷ lệ doanh nghiệp đồng ý “không gặp bất kỳ khó khăn nào” khi thực hiện thủ tục hành chính về đất đai. Những chỉ tiêu liên quan đến thủ tục hành chính về cấp GCNQSDĐ, số doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh, diện tích đất có GCNQSDĐ, sự phù hợp của khung giá đất so với giá thị trường cải thiện không nhiều.

Chỉ số Thiết chế pháp lý giảm bậc chủ yếu do giảm sút các chỉ tiêu như: tỷ lệ doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng tòa án để giải quyết các tranh chấp; tỷ lệ vụ án đã được giải quyết trong năm; doanh nghiệp tin tưởng và khả năng bảo vệ của pháp luật về vấn đề bản quyền hoặc thực thi hợp đồng; phán quyết của tòa án là công bằng. Mặc dù vậy, cộng đồng doanh nghiệp cũng đánh giá khá tích cực về các chi phí chính thức và không chính thức là chấp nhận được cũng như sự trợ giúp pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp dùng luật để khởi kiện khi có tranh chấp.

Chỉ số Tính minh bạch giảm bậc chủ yếu do cộng đồng doanh nghiệp cho rằng các tài liệu về ngân sách ít được công bố sau khi phê duyệt; vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp trong tư vấn và phản biện các chính sách của tỉnh giảm; doanh nghiệp phải thương lượng với cán bộ thuế trong quá trình thanh, kiểm tra. Bên cạnh những chỉ tiêu giảm sút đó, lượng doanh nghiệp truy cập vào website của UBND tỉnh tăng khá và việc tiếp cận với các tài liệu của tỉnh được cải thiện dễ dàng hơn.

Chỉ số Chi phí không chính thức giảm bậc chủ yếu do số doanh nghiệp hài lòng với kết quả sau khi đã trả chi phí không chính thức giảm và các doanh nghiệp cho rằng “nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục là phổ biến” tăng.

Để phục vụ tốt hơn cho cộng đồng doanh nghiệp, tỉnh Thừa Thiên Huế cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề, trong đó tập trung vào: Công tác cải cách hành chính ở cấp huyện và tuyến dưới. Cung cách phục vụ doanh nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp. Công tác thụ lý, xét xử các vụ án kinh tế của Tòa án các cấp. Việc tiếp cận đất đai của doanh nghiệp và sự ổn định trong sử dụng đất. Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, tính minh bạch và chi phí không chính thức.

Để nâng hạng chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh năm 2016, tỉnh Thừa Thiên Huế xác định phải nâng cao và duy trì chất lượng điều hành của chính quyền tỉnh vào nhóm tốt và vải thiện các chỉ số đang ở vị thứ khá lên thứ hạng rất tốt (cụ thể: Chỉ số Tính minh bạch, Đào tạo lao động và Chi phí gia nhập thị trường), tập trung quyết liệt cải thiện các chỉ số xếp hạng ở vị thứ thấp và trung bình lên thứ hạng tốt (Chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, Thiết chế pháp lý, Chi phí không chính thức, Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh...).


Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao


Đồng thời đưa ra giải pháp chung để cải thiện 10 chỉ số thành phần như:

- Triển khai có hiệu quả chương trình hoạt động “Năm Doanh Nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế”.

- Tăng cường nhận thức về quan điểm, mục tiêu, thay đổi một cách căn bản cung cách phục vụ doanh nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp; tập huấn, nâng cao kỹ năng, phong cách phục vụ dịch vụ của cán bộ ở các bộ phận hành chính công.

- Tiếp tục rà soát và nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; tập trung cải cách hành chính lĩnh vực quản lý đất đai. Tập trung nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô để thu hút đầu tư.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp thông tin của Cổng thông tin điện tử tỉnh và các trang Web của các Sở, ban ngành địa phương, các trang thông tin kinh tế xã hội; từ đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận đầy đủ thông tin về quy hoạch, kế hoạch, hệ thống văn bản pháp quy, số liệu... của tỉnh. Đẩy mạnh sử dụng dịch vụ công trực tuyến để tiết kiệm thời gian và chi phí thực hiện các quy định nhà nước.

- Tăng cường chất lượng và thời gian thụ lý, xét xử các vụ án kinh tế của Tòa án các cấp để doanh nghiệp tin tưởng vào phán quyết của Tòa án, tạo lòng tin cho doanh nghiệp đối với khả năng bảo vệ của các cơ quan pháp luật về vấn đề bản quyền hoặc thực thi hợp đồng kinh tế.

- Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, tăng cường công tác đối thoại, tiếp dân, tạo niềm tin trong cộng đồng doanh nghiệp đối với hoạt động điều hành của chính quyền cũng như định hướng phát triển của Tỉnh.

Bên cạnh đó, yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương dựa trên kế hoạch nâng hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, từ các giải pháp chung và nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể được phân công để xây dựng kế hoạch nâng hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cho đơn vị, tự đề xuất giải pháp cụ thể để cải thiện, nâng hạng chỉ số PCI do đơn vị phụ trách đảm bảo phù hợp và sát với thực tếcải thiện đồng bộ và toàn diện tất cả 10 chỉ số thành phần, nâng hạng vị thứ PCI tỉnh Thừa Thiên Huế trở lại nhóm tốt.

Câu hỏi của bạn Lê Xuân Thông, 8/18 Hoàng Diệu, Tây Lộc, Huế:

Tôi có 2 vấn đề cần được các cơ quan chức năng giải thích rõ:

1. Là một cá nhân kinh doanh ô tô vận tải du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và các vùng lân cận. Hiện nay, tình hình kinh doanh ô tô vận tải khách du lịch năm 2016 gặp rất nhiều khó khăn vì nguyên nhân:

- Vụ cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền trung nên hạn chế khách du lịch đến Việt Nam nói chung và đến Thừa Thiên Huế nói riêng.

- Tình hình diễn biến dịch bệnh Zika có thể làm ảnh hưởng đến du lịch của tỉnh nhà.

- Là một tỉnh nhỏ mà đến hai trạm thu phí.

Là lãnh đạo tỉnh, xin hỏi đ/c có giải pháp nào tháo gỡ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các hộ kinh doanh nhỏ lẻ có điều kiện kinh doanh tốt hơn?

2. Xin kính hỏi đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh câu hỏi như sau:

- Việc cấp đổi GPLX hạng A1 và hạng B2 có được cấp trong một GPLX không (cấp đổi từ chất liệu giấy sang chất liệu PET)?

- Thời gian vừa qua tôi có đến Sở GTVT làm thủ tục đổi GPLX hạng A1 vào ngày 05/10/2016. Sở GTVT thụ lý hồ sơ và giao giấy hẹn đến ngày 12/10 đến lấy nhưng không có và hẹn lại ngày 17/10, đến nhận cũng chưa có. Là lãnh đạo tỉnh đ/c có đồng tình với tiêu chí của sở GTVT là "Mục tiêu chất lượng và chính sách chất lượng" không? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung về vấn đề thứ nhất:

Trước hết chúng tôi xin chia sẻ những khó khăn của doanh nghiệp bởi những nguyên nhân nói trên.

- Sự cố môi trường dẫn đến hiện tượng hải sản chết vào đầu năm 2016 đã tác động tiêu cực trước mắt cũng như lâu dài đến tăng trưởng của nền kinh tế, gây khó khăn lớn cho nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch biển, kinh doanh thủy hải sản.

Trước tình hình đó, lãnh đạo tỉnh cùng các ngànhđã chủ động tiếp xúc với các doanh nghiệp để lắng nghe các doanh nghiệp báo cáo tình hình khó khăn trong hoạt động kinh doanh do bị ảnh hưởng về sự cố môi trường biển.

Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh các doanh nghiệp đã nỗ lực thay đổi và nâng cao chất lượng dịch vụ; chuyển đổi thực đơn; giảm giá dịch vụ, đưa ra các gói sản phẩm ưu đãi... thì trong phạm vi thẩm quyền Tỉnh sẽ có những hỗ trợ kịp thời để cho các doanh nghiệp duy trì, phục hồi lại các hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể: Chủ tịch UBND tỉnh đã đề nghị các chi nhánh Ngân hàng trên địa bàn tỉnh căn cứ vào các điều kiện cụ thể xem xét việc khoanh nợ, cho vay mới và thực hiện các chính sách ưu đãi lãi suất cho vay nhằm giúp cho các doanh nghiệp khắc phục khó khăn; Cục thuế tỉnh nghiên cứu các chính sách về thuế để có giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp; Ngành Du lịch cần nghiên cứu hỗ trợ đa dạng hóa, phát triển các loại hình dịch vụ, sản phẩm du lịch khác như: homestay, du lịch đầm phá, núi rừng,…; tăng cường các hoạt động kích cầu du lịch và tổ chức các hoạt động quảng bá du lịch biển; tuyên truyền kịp thời các số liệu, thông tin tình hình của môi trường biển khu vực nhằm thu hút khách du lịch đến với Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.

- Về tình hình diễn biến dịch bệnh Zika, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Y tế phối với các ban ngành và địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, giám sát nhằm chủ động ngăn chặn dịch bệnh Zika xảy ra trên địa bàn tỉnh. Đến nay chưa có trường hợp mắc bệnh nào xảy ra trên địa bàn tỉnh.

- Về trạm thu phí, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 02 trạm thu phí (01 ở Phú Bài và 01 ở hầm đường bộ Phước Tượng-Phú Gia). Để đảm bảo việc thu phí thuận lợi và có sự hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư, người dân và doanh nghiệp, UBND tỉnh cùng với các nhà đầu tư đã trình Bộ Giao thông Vận tải phương án với mức thu thấp nhất đối với xe tiêu chuẩn. Đồng thời, theo chủ trương chung của Chính phủ và tình hình thực tế tại địa phương, Tỉnh cũng đã làm việc với nhà đầu tư và đề nghị trước mắt nhà đầu tư phải chia sẻ khó khăn với cơ quan quản lý nhà nước, người dân, doanh nghiệp bằng cách dùng một phần lợi nhuận của nhà đầu tư để giảm mức phí vé tháng từ 30-40% cho những doanh nghiệp, người dân đang sinh sống và kinh doanh xung quanh khu vực đặt trạm thu phí.

Hy vọng với những nỗ lực của doanh nghiệp cùng với sự hỗ trợ của nhà nước sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn để có thể duy trì và phát triển. 

Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung


Trả lời của lãnh đạo Sở Giao thông vận tải về vấn đề thứ hai:

1. Việc cấp đổi GPLX mô tô hạng A1 và GPLX ô tô hạng B2 có được cấp trong một giấy phép lái xe không (cấp đổi từ GPLX bằng giấy bìa sang GPLX bằng thẻ nhựa (PET)):

Theo Điều 45, Thông tư số 58/2015/TT-BGTVT ngày 20/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ: mỗi người được cấp duy nhất 01 số quản lý giấy phép lái xe bằng vật liệu PET và mỗi người được cấp 01 giấy phép lái xe không thời hạn và 01 giấy phép lái xe có thời hạn.

Nếu có nhu cầu tích hợp giấy phép lái xe không thời hạn và giấy phép lái xe có thời hạn thì đăng ký vào thủ tục cấp đổi giấy phép lái xe theo quy định.

Như vậy, nếu Ông có nhu cầu tích hợp giấy phép lái xe thì khi làm thủ tục cấp đổi giấy phép lái xe thì đăng ký vào Đơn đề nghị đổi, cấp lại giấy phép lái xe theo mẫu.

2. Ngày 05/10/2016 phòng tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả Sở Giao thông vận tải có thụ lý hồ sơ cấp đổi giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của Ông Lê Xuân Thông, CMND số 191362474, cán bộ tiếp nhận hồ sơ cấp đổi giấy phép lái xe đã viết giấy hẹn trả kết quả theo quy định: 12/10/2016.

Trong quá trình in giấy phép lái xe, không in được. Lý do: ông Lê Xuân Thông đã có GPLX ô tô hạng B2 bằng vật liệu PET (Số GPLX 460136164335, số sirê: AB128900, do sở Giao thông vận tải Thừa Thiên Huế cấp ngày 03/07/2013).

Theo phần mềm in GPLX của Tổng cục đường bộ Việt Nam, nếu đã có giấy phép lái xe bằng thẻ nhựa (PET) thì khi in GPLX thứ 2 phải có đầy đủ thông tin: Số GPLX, số sê ri của GPLX đã có.

Tuy nhiên, khi ông Thông khai cấp đổi giấy phép lái xe mô tô hạng A1 đã không khai đầy đủ trong Đơn đề nghị đổi, cấp lại giấy phép lái xe, nên đến ngày 12/10/2016 Ông đến nhận kết quả, phòng tiếp nhận và trả kết quả, Sở GTVT đã đề nghị ông Thông cung cấp bổ sung thông tin GPLX đã có và hẹn đến 17/10/2016 trả kết quả.

Trong thời gian hẹn, máy in thẻ có sự cố kỹ thuật cần phải khắc phục nên chưa thể in GPLX được. Đến sáng 17/10/2016 vẫn chưa in GPLX được. Chuyên viên phòng QLĐT, SH&NL đã xin được thông cảm và ghi số điện thoại của ông Thông để liên hệ, tránh làm mất thời gian đi lại của ông Thông. Đến chiều ngày 17/10/2016 đã in được GPLX.

Ngày 18/10/2016, chuyên viên phòng QLĐT, SH&NL đã liên hệ cho ông Thông đến nhận GPLX đã cấp đổi.

Đây là sự cố kỹ thuật ngoài mong muốn. Rất mong ông Thông và các cá nhân khác hết sức thông cảm và chia sẽ.


Câu hỏi của bạn Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Lộc Điền, :

Đề nghị quý cơ quan hướng dẫn cho công ty về việc lập hóa đơn chuyển tài sản khi sáp nhập

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Tại Điểm b, Khoản 7, Điều 5 Chương I Thông tư số 16/VBHN-BTC ngày 17/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật thuế GTGT quy định các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT như sau:

“7. Các trường hợp khác:

Cơ sở kinh doanh không phải kê khai, nộp thuế trong các trường hợp sau:

...b) Điều chuyển tài sản giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp; điều chuyển tài sản khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Tài sản điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cơ sở kinh doanh; tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì cơ sở kinh doanh có tài sản điều chuyển phải có lệnh điều chuyển tài sản, kèm theo bộ hồ sơ nguồn gốc tài sản và không phải xuất hóa đơn.

Trường hợp tài sản điều chuyển giữa các đơn vị hạch toán độc lập hoặc giữa các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ trong cùng một cơ sở kinh doanh thì cơ sở kinh doanh có tài sản điều chuyển phải xuất hóa đơn GTGT và kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 6 Điều này”.

Căn cứ vào các quy định trên: Trường hợp CTCP vật liệu xây dựng Lộc Điền (gọi là bên nhận sáp nhập) và CTCP khác (gọi là bên bị sáp nhập) có hợp đồng sáp nhập theo quy định Luật doanh nghiệp, bên bị sáp nhập có tài sản điều chuyển phải có lệnh điều chuyển tài sản, kèm theo bộ hồ sơ nguồn gốc tài sản và không phải xuất hóa đơn.

Phó Cục trưởng Cục Thuế Thừa Thiên Huế Phạm Minh Kiên

Câu hỏi của bạn Công ty TNHH Thái Việt Swine Line , Số 02 Quang Trung, quận Hải Châu, Đà Nẵng:

Kính thưa Ban tổ chức, Công ty tôi là một công ty 100% vốn nước ngoài của Thái Lan, ngành nghề là chăn nuôi lợn. Hiện nay công ty tôi đang xúc tiến thực hiện 3 dự án đầu tư, bao gồm: 1 trang trại lợn giống với quy mô 3.000 con và 2 trang trại lợn thịt với quy mô 9.000 con/1 trại. Trong đó, trại heo giống cần diện tích khoảng 20ha và trại heo thịt cần diện tích khoảng 10ha.

Phạm vi hoạt động của công ty tôi là tại miền trung và tỉnh Thừa Thiên Huế là địa phương phù hợp với chiến lược phát triển của công ty và được ban giám đốc rất quan tâm. Do đó, Công ty đã có công văn xin giới thiệu địa điểm và khảo sát địa điểm phù hợp để thực hiện các dự án đầu tư trên.

Công ty tôi rất mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ từ Ban lãnh đạo tỉnh để Công ty có thể thực hiện dự án đầu tư trong thời gian sớm nhất.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Xin cảm ơn Công ty TNHH Thái Việt Swine Line đã quan tâm đến lĩnh vực chăn nuôi heo vào tỉnh Thừa Thiên Huế; Từ đề xuất nhu cầu của bạn và nhiều nhà đầu tư quan tâm chăn nuôi heo, ngày 19/9/2016, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có Công văn gửi UBND các huyện, thị xã đề xuất nhu cầu đất để kêu gọi dự án chăn nuôi heo; tuy nhiên hiện nay do chưa có quy hoạch khu chăn nuôi heo tập trung ở các địa phương và chưa tìm được các quỹ đất chăn nuôi heo phù hợp.

Ngày 08/11/2016, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã Công văn số 2943/SKHĐT-ĐN thông báo cho nhà đầu tư về các nội dung nói trên.

Hiện nay, tỉnh đang rà soát lại quy hoạch chăn nuôi trong đó có chăn nuôi heo trên địa bàn, theo đó UBND các huyện, thị xã sẽ rà soát lại quỹ đất tập trung phục vụ kêu gọi chăn nuôi heo. Sau khi quy hoạch được công bố thì UBND tỉnh sẽ thông báo đến quý Công ty nghiên cứu đầu tư dự án.

UBND tỉnh rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của quý công ty đầu tư vào các lĩnh vực khác.

Câu hỏi của bạn Thái Nguyễn Nam Trân, Thị trấn Phú Lộc:

Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô được thành lập đã khá lâu, tuy nhiên tôi thấy hiện tỷ lệ thu hút đầu tư tại đó còn khiêm tốn so với tiềm năng và lợi thế. Xin hỏi lãnh đạo tỉnh có kế hoạch, định hướng gì nhằm giúp Khu kinh tế này trở thành điểm sáng, thu hút nhiều nhà đầu tư trong thời gian tới?

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Như bạn đã đề cập, Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển. Đi đôi với những tiềm năng, thế mạnh đó là sức ép trong việc thu hút đầu tư vào Khu kinh tế. Suy nghĩ về điều này, Lãnh đạo tỉnh luôn luôn trăn trở, đôi lúc cũng thấy sốt ruột khi nhìn sang các Khu kinh tế trong dãy Duyên hải miền Trung như Dung Quất, Vũng Áng. Tuy nhiên, phát triển Khu kinh tế, mỗi một địa phương sẽ chọn cho mình một bước đi phù hợp. Với Chân Mây - Lăng Cô, lãnh đạo tỉnh luôn xác định: đây phải là Khu kinh tế phát triển theo mô hình tăng trưởng xanh, bền vững, không phải bất chấp bằng mọi giá thu hút đầu tư để phát triển. Những yếu tố này đã làm cho Chân Mây - Lăng Cô trở nên “kén chọn nhà đầu tư”, có thời điểm nhà đầu tư nước ngoài đem đến đây dự án cả tỷ USD về luyện thép, nhiệt điện, đóng góp cho ngân sách cả ngàn tỷ đồng mỗi năm. Thế nhưng với quan điểm phát triển bền vững, phát triển “xanh”, chúng tôi đã nói “không” với những dự án này.

Có thể nói với quan điểm xuyên suốt như trên, Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đang dần dần là điểm đến hấp dẫn cho những dự án du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, công nghiệp sạch về sau này. Đến nay, nhìn lại chặng đường 10 năm phát triển, không ngắn nhưng cũng không phải là dài đối với sự phát triển của một Khu kinh tế. Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đã thu hút được 38 dự án đầu tư, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 39.000 tỷ đồng, vốn đầu tư thực hiện đạt 8.200 tỷ đồng, chiếm 21% vốn đăng ký. Tôi cho đây là con số không nhỏ nếu so với tổng mức thu hút đầu tư của toàn tỉnh.

Về định hướng trong thời gian tới, tỉnh vẫn tiếp tục khẳng định “phát triển khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô” là một trong những nhiệm vụ trọng tâm lớn, tạo bước đột phá về phát triển tại khu vực này nói riêng và toàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung. Về cơ chế đặc biệt, tôi cho rằng muốn phát triển kinh tế tốt phải tạo được sự khác biệt. Như bạn biết, Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô là một trong 16 khu kinh tế của cả nước được áp dụng chính sách ưu đãi đặc biệt như thuế, hải quan, đất đai, đặc biệt là thủ tục hành chính; hầu như các thủ tục hành chính đều được phân cấp triệt để cho Ban quản lý Khu kinh tế, công nghiệp tỉnh tổ chức thực hiện giải quyết “một cửa tại chỗ” cho tất cả các nhà đầu tư. Song song đó, công tác đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông qua nguồn vốn ngân sách nhà nước luôn được tăng cường, năm sau cao hơn năm trước. Do vậy, diện mạo của Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô mỗi ngày một đổi khác. Tôi nghĩ các nhà đầu tư lựa chọn Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô để phát triển là một sự lựa chọn phát triển hiệu quả, vững chắc.


Toàn cảnh buổi đối thoại

Câu hỏi của bạn Công ty TNHH BAOSTEEL, Lô B-13 KCN Phú Bài:

Chính sách thuế GTGT, TNDN thiết kế, trồng cây xanh trong khuôn viên được tính như thế nào?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

- Căn cứ Khoản 1, Điều 14, Thông tư số 16/VBHN-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng về nguyên tắc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào:

“Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hóa chịu thuế GTGT bị tổn thất”.

- Tại Khoản 1, Điều 6, Thông tư số 26/VBHN-BTC ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:

“1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt...”

Căn cứ các quy định trên:

Công ty hoạt động trong khu công nghiệp có phát sinh chi phí về thiết kế, trồng cây xanh trong khuôn viên bắt buộc theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia :

1. Về thuế GTGT: Thuế GTGT phát sinh đối với khoản chi phí nêu trên liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh  của công ty thì được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

2. Về thuế TNDN: chi phí này nếu đáp ứng đủ các điều kiện tại Khoản 1, Điều 6, Thông tư số 26/VBHN-BTC và tiêu chuẩn nhận biết về tài sản cố định, công ty ghi nhận vào nguyên giá tài sản cố định và tiến hành quản lý, theo dõi, phân loại trích khấu hao tài sản cố định theo quy định; trong trường hợp không đáp ứng đủ điều kiện là tài sản cố định công ty phân bổ dần vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng tối đa không quá ba năm theo quy định tại Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.
Câu hỏi của bạn lê nga, thủy phương, hương thủy, tt-huế:

1. Nhà máy xử lý rác Thủy Phương tiếp nhận rác không xử lý, đem chất đống ngoài trời nhiều năm nay, khối lượng lên đến hàng chục ngàn m3 dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, không khí làm ảnh hưởng đến môi trường, năm 2015 nhà máy cam kết sẽ đầu tư thêm lò đốt rác để xử lý hết rác trong khu vực nhà máy nhưng đến nay lượng rác tồn đọng trong nhà máy vẫn còn rất nhiều. Xin được hỏi hướng xử lý của tỉnh về vấn đề này như thế nào?

2. Nhà máy xử lý rác Thủy Phương nợ BHXH nhiều năm nay (kể cả phần đóng BHXH của công nhân) làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Nhiều lần CBCNV nhà máy đã kêu cứu đến các cơ quan chức năng nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết, Chủ tịch đã biết việc này chưa và hướng giải quyết quyền lợi cho người lao động như thế nào?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lê Bá Phúc về vấn đề thứ nhất:

- Trong năm 2015 và năm 2016, nhận được kiến nghị của cử tri phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy, Đoàn kiểm tra liên ngành của Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND thị xã Hương Thủy cùng các cơ quan liên quan đã tiến hành kiểm tra Nhà máy xử lý rác Thủy Phương thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Tâm Sinh Nghĩa; Đoàn đã lập biên bản và có công văn yêu cầu Nhà máy phải thực hiện theo đúng các quy định trong quản lý rác thải sinh hoạt.

Theo quy trình xử lý của nhà máy: rác thải sinh hoạt trên địa bàn do Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Huế thu gom, vận chuyển đưa về Nhà máy xử lý rác Thủy Phương (Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Tâm Sinh Nghĩa) sau khi phun hóa chất diệt ruồi, muỗi, chế phẩm khử mùi; rác được xử lý (tách, tuyển, phân loại, tận thu bao ni lông các loại, ủ thành phân rác và đốt), phần còn lại chủ yếu là rác trơ được đổ vào bãi chôn lấp Thủy Phương (Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Huế) với tỷ lệ nhỏ hơn 10%.

{Hàng quý, UBND thành phố Huế chủ trì cùng các sở liên quan (Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường), và các phòng chuyên môn của thành phố đều tiến hành họp, nghiệm thu theo quy định}.

Hiện nay, đúng như bạn phản ánh, trong khuôn viên nhà máy còn tồn lượng lớn rác sinh hoạt, không được che chắn hoàn toàn; Đây là phần rác còn lại sau quá trình tách, tuyển, phân loại, tận thu bao ni lông các loại, tách chất hữu cơ ủ thành phân rác và rác cá biệt, sợi hữu cơ. Chúng gồm: sợi hữu cơ mạch dài, rác cá biệt (cành cây, chăn chiếu mùng mền…) được tiêu hủy bằng lò đốt trong quy trình xử lý của nhà máy.

Nguyên nhân dẫn đến lượng rác tồn trên do sau quá trình bảo trì, sửa chữa và nâng cấp Nhà máy xử lý rác Thủy Phương: công suất đốt của lò đốt chưa đáp ứng công suất xử lý 200 tấn rác sinh hoạt/ngày.

Để giải quyết lượng rác tồn đọng trên, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Tâm Sinh Nghĩa đang tập trung, nâng cấp khu nhà xưởng lò đốt rác; lắp đặt, đưa vào vận hành 02 lò đốt mới và dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2016 (hiện nay, công trình đang triển khai xây dựng).

Công ty ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Tâm Sinh Nghĩa đã có văn bản số 67/CV-CNTSN ngày 12/11/2016 về việc xơ sợi dài còn trong nhà máy và cam kết sẽ xử lý hoàn toàn lượng rác tồn đọng vào cuối quý II năm 2017.

- Theo đề nghị của UBND thành phố Huế, ngày 04/10/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp cùng UBND thành phố Huế, UBND thị xã Hương Thủy, UBND phường Thủy Phương tiến hành làm việc tại Nhà máy Tâm Sinh Nghĩa tiến hành khảo sát, kiểm tra thực tế và xác định các nguồn gây ô nhiễm nước mặt tại khu vực. Qua khảo sát thực tế, Nhà máy đã dừng hoạt động công đoạn rửa nilon từ năm 2015, do đó hệ thống xử lý nước rửa nilon không hoạt động, lượng nước thải ra ngoài môi trường là nước thải sinh hoạt, cơ sở đang xây dựng 01 hệ thống thu gom nước rác tại phía cuối tường nhưng chưa hoàn thành, đoàn phát hiện nhiều vị trí dọc tường bao quanh cơ sở có hiện tượng rò rỉ nước, nước rỉ rác chảy ra ngoài môi trường và đã tiến hành lấy mẫu. Đoàn đã lập biên bản và yêu cầu Nhà máy có văn bản cam kết xử lý dứt điểm rác tồn đọng và phải thực hiện theo đúng các quy định trong quản lý rác thải sinh hoạt.

Kế hoạch đầu tư khu xử lý rác sinh hoạt tại Phú Sơn: Hiện nay, tỉnh đang xây dựng mới khu xử lý chất thải rắn tại xã Phú Sơn, thị xã Hương Thủy và kêu gọi các nhà đầu tư về xử lý chất thải rắn (hiện đã có 09 đơn vị đăng ký đầu tư). Dự kiến khu xử lý sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động vào cuối năm 2018.

Trong thời gian từ đây đến khi Khu xử lý rác liên hợp tại Phú Sơn hoàn thành, yêu cầu Nhà máy xử lý rác Thủy Phương (Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Tâm Sinh Nghĩa) đẩy nhanh tiến độ xây dựng lò đốt rác để xử lý hoàn tất lượng rác còn tồn đọng theo đúng cam kết. Xử lý triệt để lượng rác nhận mới theo hợp đồng.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Xuân Quang về vấn đề thứ hai:

Theo Công văn số 820/BHXH-KT&TN ngày 14/10/2016 của Bảo hiểm xã hội Thừa Thiên Huế về việc đề nghị xử lý vi phạm hành chính đơn vị nợ BHXH, BHYT, BHTN, trong đó: Chi nhánh Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Tâm Sinh Nghĩa nợ BHXH, BHYT, BHTN kéo dài (tính đến thời điểm 30/9/2016) là 61 lao động, số tháng nợ là 29 tháng, với số tiền nợ là 2.252.869.470 đồng.

Về hướng giải quyết quyền lợi cho người lao động:

- UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã có Công văn số 6588/UBND-XH ngày 25/10/2016, giao cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với BHXH tỉnh kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định Điều 26 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ.

- Ngày 11/11/2016 Tòa án nhân dân tỉnh và Liên đoàn Lao động tỉnh đã ký kết Chương trình phối hợp công tác (giai đoạn 2016-2020) về việc phối hợp trong công tác giải quyết các vụ án tranh chấp liên quan đến Bộ luật lao động, Luật BHXH, các chế độ chính sách có liên quan quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Trong đó có nội dung: “Căn cứ quy định của Luật tố tụng dân sự, quy định về thủ tục, trình tự tố tụng lao động tại Tòa án, Liên đoàn Lao động tỉnh thực hiện việc hướng dẫn người lao động, đoàn viên công đoàn và cán bộ công đoàn các cấp thực hiện việc khởi kiện doanh nghiệp, người sử dụng lao động (nếu có yêu cầu), từ khâu viết đơn khởi kiện đến quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án”.

Do đó, nếu người lao động có yêu cầu khởi kiện doanh nghiệp, người sử dụng lao động vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội thì đề nghị liên hệ với Liên đoàn lao động tỉnh để được hướng dẫn thủ tục khởi kiện.


Câu hỏi của bạn dangbao1208@gmail.com, dangbao1208@gmail.com:

Server đã qua sử dụng có được phép nhập khẩu không, nếu được thì thuế nhập khẩu như thế nào? 

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Hải quan Ngô Bình Tú:

Căn cứ Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 31/2015/TT-BTTTT ngày 29/10/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dn một số điều của Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ đi với hoạt động xuất, nhập khu sản phm công nghệ thông tin đã qua sử dụng thì mặt hàng máy xử lý dữ liệu tự động và các khối chức năng của chúng (nhóm 8471) đã qua sử dụng thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu.

Trường hợp nhập khẩu sản phẩm thuộc danh mục cấm nhập khẩu để nghiên cứu khoa học, đề nghị bạn liên hệ Bộ Thông tin và Truyền thông để xin giấy phép nhập khẩu mặt hàng trên theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 31/2015/TT-BTTTT.

Thủ tục, hồ sơ hải quan nhập khẩu thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều 16 và 18 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính.

Về thuế nhập khẩu: Căn cứ vào Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành theo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2016, thì mặt hàng Server (máy chủ) có thể tham khảo phân loại mã 8471.49.90; Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0%.

Câu hỏi của bạn Lê Văn Trường, Phạm Văn Đồng, Huế:

Qua quá trình tuyển dụng lao động về làm việc tại doanh nghiệp tôi nhận thấy ngành nghề đào tạo tại các trường, cơ sở đào tạo nghề của tỉnh chưa gắn với nhu cầu việc làm, nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp. Tỉnh đã có những giải pháp cụ thể thế nào để khắc phục tình trạng này.

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

a) Về chỉ đạo:

Trước hết cần phải khẳng định: Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân tỉnh tỉnh luôn chỉ đạo: Việc đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo, không đào tạo những ngành nghề mà không tìm được việc làm sau đào tạo, không tổ chức dạy và học khi người lao động không định hướng được nơi làm việc và mức thu nhập có được sau khi tốt nghiệp.

Thực tế cho thấy các cơ sở dạy nghề trên địa bàn đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo nói trên và trên 80% lao động sau khi tốt nghiệp trung cấp nghề, cao đẳng nghề đều tìm được việc làm phù hợp; riêng về sơ cấp nghề thì trên 90% lao động sau khi học nghề đều tìm được việc làm.

Trong chỉ đạo cũng như trong nguyên tắc đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay được thực hiện là các cơ sở phải tổ chức đào tạo theo nhu cầu xã hội chứ không đào tạo theo những gì mà cơ sở đào tạo hiện có.  

b) Thực tế:

Do câu hỏi của bạn chưa nói rõ công ty bạn thuộc loại hình gì và yêu cầu tuyển dụng lao động như thế nào nên chúng tôi chưa thể trả lời cụ thể được. Tuy nhiên, trong thực tế, trong công tác tuyển sinh của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bộ phận tuyển sinh đã phỏng vấn rất chi tiết đối với người đăng ký học nghề để biết rõ người học muốn lựa chọn ngành nghề gì, cũng như dự báo vị trí làm việc sau này để có thể tư vấn chính xác ngành nghề theo học.

Tuy nhiên, do nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp cũng hết sức đa dạng và mang tính thời điểm. Vì vậy, lúc học viên vào học thì ngành nghề đó phù hợp, nhưng qua quá trình học tập và khi tốt nghiệp thì nhu cầu doanh nghiệp đã thay đổi. Do đó người học có thể không vào làm việc đúng vị trí theo yêu cầu của doanh nghiệp.

c) Một số giải pháp.

- Nghiên cứu về xu thế phát triển những ngành nghề mà tỉnh cũng như khu vực có nhu cầu để định hướng cho người học trong việc lựa chọn ngành nghề học.

- Chúng tôi sẽ có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp nhằm đảm bảo việc đào tạo phù hợp với yêu cầu công việc của học viên.

- Chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đẩy mạnh việc đào tạo theo hợp đồng với doanh nghiệp, đào tạo theo địa chỉ nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề.

- Khuyến khích các doanh nghiệp mở các cơ sở đào tạo nghề trực thuộc doanh nghiệp để chủ động tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp.

Câu hỏi của bạn Hồ Quang Thái, Vĩnh Ninh, Huế:

Tôi được biết tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ tập trung xây dựng để trở thành một trong những trung tâm dệt may của miền Trung. Tuy nhiên để làm được điều này thì cần có các nhà máy công nghiệp hỗ trợ dệt may đáp ứng nhu cầu nguyên phụ liệu tại chỗ (hiện nay hầu hết nguyên phụ liệu của ngành Dệt may tại tỉnh đều nhập từ nước ngoài). Xin hỏi lãnh đạo tỉnh có giải pháp nào để giải quyết bài toán này? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Kể từ khi gia nhập WTO, ngành Dệt May Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, tỷ trọng nguyên phụ liệu phải nhập khẩu chiếm rất lớn (từ 80 - 85%), giá trị gia tăng của ngành tạo ra thực sự rất nhỏ so với kim ngạch xuất khẩu đạt được. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, tỉnh Thừa Thiên Huế được xác định là trung tâm phát triển dệt may của vùng. Ngành dệt may Thừa Thiên Huế (đã đóng góp 2,62% giá trị sản xuất và 2,36% giá trị xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam; chiếm 35-38% giá trị sản xuất công nghiệp và 75% giá trị xuất khẩu hàng hóa của tỉnh; giải quyết việc làm cho hơn 20.000 lao địa phương); góp phần quan trọng thúc đẩy việc phát triển KT-XH của tỉnh cũng như Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Theo dự báo trước năm 2020, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may khu vực Huế - Quảng Trị - Đà Nẵng chiếm khoảng 10% (5 tỷ USD).

Nhằm thúc đẩy và giúp ngành công nghiệp dệt may chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, tăng năng lực cạnh tranh, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xây dựng đề án “Phát triển khu công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt may tại tỉnh Thừa Thiên Huế” với diện tích khoảng 400ha tại KCN Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Với mục tiêu là ưu tiên phát triển có chọn lọc một số chủng loại sản phẩm trọng điểm, đặc biệt là các sản phẩm dệt, nhuộm chú trọng phải sử dụng công nghệ sinh học tiên tiến Châu Âu, đảm bảo môi trường và tạo điều kiện để thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Đồng thời giải quyết việc làm và đẩy tăng nhanh tỷ trọng giá trị gia tăng của sản phẩm dệt may của tỉnh cũng như Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

Định hướng đến năm 2020 là ưu tiên thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực dệt, nhuộm hoàn tất vải (đáp ứng khoảng 60% nhu cầu vải của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung ~ 240 triệu m2 vải/năm); khuyến khích đầu tư một số sản phẩm phụ liệu phục vụ ngành may (đáp ứng được trên 30% nhu cầu Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung). Sau năm 2020 tăng quy mô đầu tư và năng suất các dự án đầu tư trong lĩnh vực dệt, nhuộm hoàn tất vải.

Nhằm tạo bước đột phá để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ về dệt may, phục vụ cho quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, Khu công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may tại tỉnh Thừa Thiên Huế được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước, cụ thể như sau:

1. Đối với các nhà đầu tư xây dựng hạ tầng:

- Ngân sách nhà nước: hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng; hỗ trợ kinh phí rà, phá bom, mìn, vật liệu nổ (từ nguồn ngân sách địa phương); Hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải, chất thải tập trung (100 tỷ đồng bằng nguồn ngân sách TW và một phần ngân sách địa phương).

- Được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 17% trong thời hạn 10 năm; miễn tiền thuê đất đến 20 năm kể từ ngày hoàn thành xây dựng, đưa dự án vào hoạt động; Được cho thuê đất trong thời hạn không quá 70 năm.

Ngoài ra, còn được hỗ trợ xem xét vay vốn tín dụng, được huy động vốn từ quỹ đất để thực hiện dự án đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội dùng chung bên trong Khu công nghiệp.

2. Đối với các dự án đầu tư thứ cấp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ:

- Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm (nếu đáp ứng các tiêu chí sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may); Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án bao gồm các loại hàng hóa theo quy định của Luật thuế xuất, nhập khẩu.

- Được xem xét vay vốn tín dụng, hỗ trợ một phần phí sử dụng hạ tầng; được hưởng ưu đãi các chính sách hỗ trợ về Phát triền và ứng dụng khoa học và công nghệ; về đào tạo nâng cao trình độ lao động; về phát triển thị trường,... (theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ). 

Câu hỏi của bạn Ngọc Bích, Huế:

Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì mức xử phạt như thế nào?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Căn cứ Khoản 2; Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật quản lý thuế quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế  quy định : Mức xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn là 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm cao hơn so với mức quy định của pháp luật về thuế. Ngoài việc bị xử phạt theo quy định còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp đủ số tiền thuế nợ, số tiền thuế thiếu, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.

Câu hỏi của bạn Lê Đăng Bình, dangbinh_76@gmail.com:

Xin hỏi Quý tỉnh cho biết công ty chúng tôi ở tỉnh ngoài muốn thuê đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế để thực hiện dự án đầu tư thì tiếp cận thông tin quy hoạch tại đâu? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Rất hoan nghênh và chào đón bạn đến đầu tư, kinh doanh tại Thừa Thiên Huế. Nếu bạn muốn thuê đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế để thực hiện dự án đầu tư thì bạn có nhiều điểm để tiếp cận thông tin quy hoạch, cụ thể:

1. Sở Kế hoạch và Đầu tư (đối với các dự án đầu tư nằm ngoài khu kinh tế, khu công nghiệp);

2. Ban quản lý khu kinh tế, công nghiệp tỉnh (đối với các dự án đầu tư nằm trong khu kinh tế, khu công nghiệp);

3. Trung tâm Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh - Văn phòng UBND tỉnh;

4. UBND cấp huyện nơi bạn dự kiến thực hiện dự án;

5. Ban Quản lý Khu vực phát triển đô thị tỉnh.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, các cơ quan trên phải thông báo kết quả cho bạn.

Để biết thêm chi tiết, xin mời bạn tham khảo Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định trình tự thủ tục thực hiện, giám sát, quản lý dự án đầu tư và xây dựng không sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, hoặc liên hệ trực tiếp với Sở Kế hoạch và Đầu tư để được hướng dẫn cụ thể.

Câu hỏi của bạn vietcuong_68@gmail.com, vietcuong_68@gmail.com:

Hiện nay các cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm đặc sản Huế gặp nhiều khó khăn trong việc huy động các nguồn lực để mở rộng sản xuất cũng như phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm: Xin hỏi tỉnh có chính sách nào để hỗ trợ các cơ sở sản xuất phát triển thị trường cho các mặt hàng đặc sản Huế?

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng, vị thế của đặc sản địa phương nói chung và đặc sản Huế nói riêng trong sự ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội; UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 1746/QĐ-UBND ngày 06/9/2013 phê duyệt chiến lược phát triển thương hiệu các đặc sản tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 và Chương trình số 57/CTr-UBND ngày 22/4/2016 phát triển thị trường sản phẩm đặc sản Huế giai đoạn 2016-2020. UBND tỉnh đã có những chính sách phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm đặc sản Huế như sau:

(1) Hỗ trợ phát triển sản xuất: Thực hiện theo Chương trình khuyến công.

(2) Hỗ trợ phát triển thị trường: Thực hiện theo Chương trình xúc tiến thương mại với các hoạt động sau:

- Tham gia hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước.

- Quảng bá sản phẩm đặc sản Huế thông qua Cổng thương mại điện tử Sản phẩm Huế với tên miền: www.sanphamhue.com.vn và www.sanphamhue.vn

- Tổ chức các chương trình kết nối và tham gia các hội nghị kết nối tiêu thụ sản phẩm tại các tỉnh thành trong nước nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản, đặc sản, thủ công mỹ nghệ của tỉnh. Trong tháng 12/2016, tỉnh sẽ tổ chức Hội nghị kết nối, phát triển thị trường sản phẩm nông sản, đặc sản, thủ công mỹ nghệ Huế lần 2 năm 2016 tại thành phố Huế.

Hiện nay, UBND tỉnh đã giao Sở Công Thương làm đầu mối giúp đỡ cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm đặc sản Huế, đề nghị bạn liên hệ Sở Công Thương Thừa Thiên Huế thông qua Trung tâm Khuyến Công và Xúc tiến thương mại (Địa chỉ: 02 Tôn Đức Thắng, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế) - Điện thoại: 0543.810216 - 837840 hoặc Phòng Kinh tế/Kinh tế - Hạ tầng thành phố Huế, thị xã và các huyện để được tư vấn.

Câu hỏi của bạn Công ty TNHH Thiên Phú, Công ty TNHH Thiên Phú:

Xin hỏi trường hợp khi điều chuyển hàng hóa, tài sản cố định cho đơn vị trực thuộc hoặc giữa các đơn vị trực thuộc với nhau thì có cần phải xuất hóa đơn không?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Căn cứ Tiết b, Khoản 7, Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng.

“Điều 5. Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT

...b) Điều chuyển tài sản giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp; điều chuyển tài sản khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Tài sản điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cơ sở kinh doanh; tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì cơ sở kinh doanh có tài sản điều chuyển phải có lệnh điều chuyển tài sản, kèm theo bộ hồ sơ nguồn gốc tài sản và không phải xuất hoá đơn.”

Về việc sử dụng hóa đơn đối với hoạt động điều chuyển hàng hóa, tài sản cố định:

+ Trường hợp xuất điều chuyển hàng hóa:

Căn cứ phụ lục 2.6 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31 tháng 3 năm 2014 của Bộ Tài chính:

   2.6. Tổ chức kinh doanh kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ xuất điều chuyển hàng hoá cho các cơ sở hạch toán phụ thuộc như các chi nhánh, cửa hàng ở khác địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) để bán hoặc xuất điều chuyển giữa các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc với nhau; xuất hàng hoá cho cơ sở nhận làm đại lý bán đúng giá, hưởng hoa hồng, căn cứ vào phương thức tổ chức kinh doanh và hạch toán kế toán, cơ sở có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng hoá đơn, chứng từ như sau:

a) Sử dụng hoá đơn GTGT để làm căn cứ thanh toán và kê khai nộp thuế GTGT ở từng đơn vị và từng khâu độc lập với nhau;
 

b) Sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm theo Lệnh điều động nội bộ; Sử dụng Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý theo quy định đối với hàng hoá xuất cho cơ sở làm đại lý kèm theo Lệnh điều động nội bộ…

+ Trường hợp xuất điều chuyển tài sản cố định:

Căn cứ Tiết b.2, Điểm b, Phụ lục 2.15 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31  tháng 3 năm 2014 của Bộ Tài chính:

....b.2. Tài sản điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong tổ chức, cá nhân; tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì tổ chức, cá nhân có tài sản điều chuyển phải có lệnh điều chuyển tài sản, kèm theo bộ hồ sơ nguồn gốc tài sản và không phải xuất hoá đơn.

Trường hợp tài sản điều chuyển giữa các đơn vị hạch toán độc lập hoặc giữa các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ trong cùng một tổ chức, cá nhân thì tổ chức, cá nhân có tài sản điều chuyển phải lập hoá đơn GTGT theo quy định.

Căn cứ quy định trên thì Công ty xuất điều chuyển hàng hóa thì sử dụng phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm theo Lệnh điều động nội bộ; điều chuyển tài sản giữa các đơn vị trực thuộc hoặc giữa các đơn vị trực thuộc thì không phải xuất hóa đơn GTGT mà sử dụng Lệnh điều chuyển tài sản và hồ sơ nguồn gốc tài sản.

Câu hỏi của bạn Nguyễn Uyên Nhi, uyennhinguyen.75@gmail.com:

Những đối tượng nào phải xin giấy phép xả thải vào nguồn nước; xin được hướng dẫn hồ sơ thủ tục xin giấy phép xả thải vào nguồn nước.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lê Bá Phúc:

Những đối tượng phải xin cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước

Tại Khoản 3, Điều 16 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước quy định như sau:

Các trường hợp không phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước quy định tại Khoản 5 Điều 37 của Luật tài nguyên nước bao gồm

a) Xả nước thải sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình;

b) Xả nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 5 m3/ngày đêm và không chứa hóa chất độc hại, chất phóng xạ;

c) Xả nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung mà hệ thống đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và có thỏa thuận hoặc hợp đồng xử lý, tiêu thoát nước thải với tổ chức, cá nhân quản lý vận hành hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đó;

d) Xả nước thải nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm hoặc nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, suối, hồ chứa.

Các trường hợp không thuộc các trường hợp trên đây phải xin giấy phép xả thải vào nguồn nước.

Ngoài ra tại Khoản 5, Điều 3 Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước:

Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xả nước thải với quy mô dưới 05 m3/ngày đêm phải có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước là cơ sở hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:

a) Dệt nhuộm; may mặc có công đoạn nhuộm, in hoa; giặt là có công đoạn giặt tẩy;

b) Luyện kim, tái chế kim loại, mạ kim loại; sản xuất linh kiện điện tử;

c) Xử lý, tái chế chất thải công nghiệp; thuộc da, tái chế da;

d) Chế biến khoáng sản có sử dụng hóa chất; lọc hóa dầu, chế biến sản phẩm dầu mỏ;

đ) Sản xuất giấy và bột giấy; nhựa, cao su, chất tẩy rửa, phụ gia, phân bón, hóa chất, dược phẩm, đông dược, hóa mỹ phẩm, thuốc bảo vệ thực vật; pin, ắc quy; mây tre đan, chế biến gỗ có ngâm tẩm hóa chất; chế biến tinh bột sắn, bột ngọt;

e) Khám chữa bệnh có phát sinh nước thải y tế;

g) Thực hiện thí nghiệm có sử dụng hóa chất, chất phóng xạ.

Hồ sơ thủ tục xin cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước bao gồm:

Tại Điều 33 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước quy định như sau:

Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước

1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;

b) Đề án xả nước thải vào nguồn nước kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải đối với trường hợp chưa xả nước thải; báo cáo hiện trạng xả nước thải kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải đối với trường hợp đang xả nước thải vào nguồn nước;

c) Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước tiếp nhận tại vị trí xả nước thải vào nguồn nước; kết quả phân tích chất lượng nước thải trước và sau khi xử lý đối với trường hợp đang xả nước thải. Thời điểm lấy mẫu phân tích chất lượng nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;

d) Sơ đồ vị trí khu vực xả nước thải.

Trường hợp chưa có công trình xả nước thải vào nguồn nước, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải nộp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.

2. Hồ sơ đề nghị gia hạn, điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước bao gồm:

a) Đơn đề nghị gia hạn hoặc điều chỉnh giấy phép;

b) Kết quả phân tích chất lượng nước thải và chất lượng nguồn nước tiếp nhận tại vị trí xả nước thải vào nguồn nước. Thời điểm lấy mẫu phân tích chất lượng nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;

c) Báo cáo hiện trạng xả nước thải và tình hình thực hiện các quy định trong giấy phép. Trường hợp điều chỉnh quy mô, phương thức, chế độ xả nước thải, quy trình vận hành thì phải có đề án xả nước thải;

d) Bản sao giấy phép đã được cấp.

Câu hỏi của bạn Doanh nghiệp tư nhân Phát Hải, :

Điều kiện ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như thế nào?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Căn cứ văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC ngày 14/9/2015 quy định điều kiện ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như sau :

*Về điều kiện áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại điều 18 văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC trong đó có quy định các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo kê khai.

*Về thuế suất ưu đãi 10%;15%;17%;20%  được quy định tại điều 19 văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC

*Về ưu đãi thời gian miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại điều 20 văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC trong đó quy định chỉ ưu đãi thời gian miễn thuế, giảm thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng.

*Về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp các trường hợp khác được quy định tại điều 21 văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC trong đó quy định doanh nghiệp  sử dụng lao động nữ; Doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số; Doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ.

* Về Thủ tục thực hiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại điều 21 văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC: Doanh nghiệp tự xác định các điều kiện ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế, giảm thuế, số lỗ được trừ (-) vào thu nhập tính thuế để tự kê khai và tự quyết toán thuế với cơ quan thuế.

Câu hỏi của bạn Phương Thúy, Trần Hưng Đạo, Huế:

Nạn hàng giả trên thị trường hiện nay rất nhiều, vậy tỉnh có những biện pháp gì để ngăn chặn và kiểm soát?

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Cuộc chiến chống hàng giả hiện nay khá khó khăn, phức tạp, khó có thể thực hiện trong “một sớm, một chiều”. Ngoài nhiệm vụ của các ngành, các cấp, các lực lượng chức năng cần phải phối hợp chặt chẽ và xử lý quyết liệt, cần phải có sự chung sức của người tiêu dùng và toàn xã hội. Vì vậy, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn cho người tiêu dùng nhận biết các dấu hiệu của hàng giả; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng chức năng chuyên ngành vùng biên giới và nội địa (lực lượng quản lý thị trường, công an kinh tế nội địa và hải quan, bộ đội biên phòng khu vực biên giới).

- Đối với các doanh nghiệp:

+ Cần có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng và các hiệp hội trong việc giám sát tiêu thụ hàng hoá và chủ động khiếu nại khi bị xâm phạm nhãn hiệu; đồng thời cần chủ động, tích cực tham gia cuộc chiến chống hàng giả, hàng nhái thông qua hoạt động quảng bá sản phẩm song song với việc hướng dẫn, chỉ rõ cho người tiêu dùng các thủ đoạn làm hàng giả cũng như có kênh phân phối sản phẩm chất lượng tốt tới tận tay người tiêu dùng, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các khu công nghiệp, khu chế xuất…

+ Cần có sự liên minh giữa các nhà sản xuất trong đấu tranh chống hàng giả. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giúp người tiêu dùng trang bị kiến thức “tiêu dùng thông minh”, tránh trở thành nạn nhân của hàng giả, hàng nhái và phải nhận thức rõ nhiệm vụ của mình trong việc chống hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng vì quyền lợi của bản thân và xã hội.

- Đối với người tiêu dùng: Không tiêu dùng những hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, hàng giả, hàng kém chất lượng; kịp thời phát hiện và tố giác với các cơ quan chức năng trong việc sản xuất – kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng.

Hiện nay, tuy đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ngăn ngừa, hạn chế, truy cứu trách nhiệm sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, tuy nhiên chế tài xử phạt còn thấp chưa đủ sức răn đe; chưa theo kịp với những diễn biến phức tạp nảy sinh trong thực tiễn. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan lại chủ yếu tập trung vào chống, nhất là chống trong khâu tiêu thụ hàng giả mà chưa chú trọng đúng mức đến phòng ngừa ngăn chặn sản xuất hàng giả. Do vậy, việc chống hàng giả cần có sự quan tâm không những chỉ các cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội trong việc phát hiện, tiêu dùng. Có như vậy, cuộc chiến chống hàng giả mới đem lại hiệu quả thiết thực.

Câu hỏi của bạn Trần Ngọc Trân Châu, TP Huế:

Qua theo dõi, tôi thấy tỉnh Thừa Thiên Huế thời gian vừa qua tiếp và làm việc với khá nhiều nhà đầu tư lớn cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên kết quả của các cuộc tìm hiểu đầu tư tại tỉnh chưa đạt cao, tỷ lệ nhà đầu tư quay trở lại không nhiều? Vậy đâu là nguyên nhân và giải pháp khắc phục những tồn tại trên? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Thời gian qua có rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến làm việc với tỉnh để tìm hiểu cơ hội đầu tư đây là một tín hiệu đáng mừng thể hiện sự đổi mới trong việc chỉ đạo điều hành của các cấp các ngành trong việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công tác xúc tiến đầu tư. Việc khảo sát tìm hiểu cơ hội đầu tư để đi đến quyết định đầu tư một dự án nhà đầu tư cần phải có thời gian nghiên cứu, tính toán hiệu quả, thị trường cũng như lợi thế so sánh các vùng miền. Đến nay, trên cơ sở tìm hiểu đầu tư một số tập đoàn lớn trong và ngoài nước đã quyết định đầu tư dự án tại tỉnh cụ thể như: Tập đoàn Vingroup-CP đang triển khai xây dựng dự án trung tâm thương mại khách sạn 05 sao tại khu đất 50A Hùng Vương, đang nghiên cứu triển khai dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Vinpearl tại xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc; Tập đoàn Bitexco đang triển khai dự án khu đô thị Manor Crown của tập đoàn Bitexco tại Khu A, đô thị An Vân Dương, dự án khu du lịch nước nóng Mỹ An, đang triển khai nghiên cứu một số dự án khác; Công ty cổ phần Đầu tư Nguyễn Kim đang triển khai dự án Trung tâm Thương mại, khách sạn 05 sao Nguyễn Kim tại khu đất A2 Bà Triệu, thành phố Huế; Tập đoàn BRG đang triển khai nghiên cứu đầu tư dự án nâng cấp khách sạn Century Huế, dự án sân golf 36 lỗ, dịch vụ đi kèm tại xã Vinh Thanh, Vinh Xuân, huyện Phú Vang;Tập đoàn PSH của Tây Ban Nha đang nghiên cứu triển khai dự án khu du lịch nghỉ dưỡng tại xã Vinh Thanh, huyện Phú Vang; Tổng công ty Viglacera-CTCP đang triển khai dự án đầu tư hạ tầng kinh doanh khu công nghiệp Phong Điền;…

Để đẩy nhanh tiến độ các dự án trên, cũng như các dự án nhà đầu tư đang tìm hiểu khảo sát quyết định đầu tư, thời gian vừa qua, UBND tỉnh đã thành lập Tổ công tác liên ngành, nhiệm vụ của Tổ công tác này hỗ trợ tất cả các thủ tục đầu tư, xây dựng, đất đai,… từ khâu chuẩn bị cho đến khi hoàn thành dự án đi vào hoạt động.

Câu hỏi của bạn Chi nhánh công ty CPDV hàng không Thăng Long tại Huế, :

Công ty mẹ xuất hàng hóa cho chi nhánh sử dụng hóa đơn nào cho đúng?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Căn cứ phụ lục 4; Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Quy định hướng dẫn lập hóa đơn bán hàng, dịch vụ trường hợp Công ty mẹ xuất hàng hóa cho chi nhánh căn cứ vào phương thức tổ chức kinh doanh và hạch toán kế toán, cơ sở có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng hoá đơn, chứng từ như sau:

 a) Sử dụng hoá đơn GTGT để làm căn cứ thanh toán và kê khai nộp thuế GTGT ở từng đơn vị và từng khâu độc lập với nhau;

b) Sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm theo Lệnh điều động nội bộ.

Cơ sở hạch toán phụ thuộc, chi nhánh, khi bán hàng phải lập hóa đơn theo quy định giao cho người mua, đồng thời lập Bảng kê hàng hóa bán ra gửi về cơ sở có hàng hóa điều chuyển hoặc cơ sở có hàng hoá gửi bán (gọi chung là cơ sở giao hàng) để cơ sở giao hàng lập hóa đơn GTGT cho hàng hóa thực tế tiêu thụ giao cho cơ sở hạch toán phụ thuộc, chi nhánh.
Câu hỏi của bạn maian¬_mv@gmail.com, maian¬_mv@gmail.com:

Công ty chúng tôi (100% vốn trong nước) muốn góp vốn cùng một cá nhân nước ngoài thành lập một doanh nghiệp có được không? Trình tự, thủ tục như thế nào? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Tất nhiên là được bạn ạ.

1. Căn cứ pháp lý:

Theo Điều 22 Luật Đầu tư 2014 quy định:Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ:

Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:

(i) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

(ii) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;

(iii) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại tiết (i) và (ii) nêu trên thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

b) Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Trình tự, thủ tục thực hiện:

a) Thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài:

Nhà đầu tư nước ngoài nộp 04 bộ hồ sơ, trong đó có ít nhất 01 bộ hồ sơ gốc đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đến Sở Kế hoạch và Đầu tư (đối với các dự án đầu tư nằm ngoài khu kinh tế, khu công nghiệp) và Ban quản lý khu kinh tế, công nghiệp tỉnh (đối với các dự án đầu tư nằm trong khu kinh tế, khu công nghiệp).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Ban quản lý khu kinh tế, công nghiệp tỉnh sẽ cấp cho nhà đầu tư Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gồm:

- Văn bản đề nghị thực hiện dự án đầu tư (theo mẫu) (Bản chính);

- Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; Bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức;

- Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: Nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án (theo mẫu)(Bản chính);

- Bản sao một trong các tài liệu sau: Báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính; bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư;

- Đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp Bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư (theo mẫu)(Bản chính);

- Giải trình về sử dụng công nghệ đối với dự án có sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ, gồm các nội dung: tên công nghệ, xuất xứ công nghệ, sơ đồ quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật chính, tình trạng sử dụng của máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ chính (theo mẫu)(Bản chính).

Để biết thêm chi tiết, xin mời bạn tham khảo Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định trình tự thủ tục thực hiện, giám sát, quản lý dự án đầu tư và xây dựng không sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (đã được đăng tải tại Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Sở Kế hoạch và Đầu tư), hoặc liên hệ trực tiếp với Sở Kế hoạch và Đầu tư để được hướng dẫn cụ thể.

b) Thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:

Nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp (có cá nhân người nước ngoài tham gia góp vốn) đến Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư, hồ sơ bao gồm:

(1) Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp (theo mẫu).

(2) Điều lệ công ty (mẫu tham khảo).

(3) Danh sách cổ đông sáng lập/thành viên góp vốn.

(4) Bản sao các giấy tờ sau đây:

(a) Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của các cổ đông sáng lập/thành viên góp;

(b) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và văn bản ủy quyền (nếu cổ đông sáng lập/thành viên góp vốn là doanh nghiệp); Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông sáng lập/thành viên góp vốn.

(c) Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư.

Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Để biết thêm chi tiết, xin mời bạn tham khảo Bộ thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp đã được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Sở Kế hoạch và Đầu tư, hoặc liên hệ trực tiếp với Phòng Đăng ký kinh doanh để được hướng dẫn cụ thể.

Câu hỏi của bạn Lê Thanh Ân, Thuận Thành, Huế:

Hiện nay, mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, nông dân với doanh nghiệp vẫn khá lỏng lẻo, không gắn kết được lợi ích và trách nhiệm của các bên; số doanh nghiệp thu mua, tiêu thụ sản phẩm nông sản của tỉnh không nhiều, chưa tạo được một đầu mối tập trung, tin cậy hỗ trợ người nông dân trong thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Lãnh đạo tỉnh có giải pháp, định hướng gì để gắn kết doanh nghiệp và nông dân giúp đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp được thuận lợi? 

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã hình thành, phát triển nhiều mô hình nông nghiệp liên kết sản xuất theo chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ bước đầu đem lại hiệu quả, tạo sự ổn định và phát triển cho một số sản phẩm của nông nghiệp.

UBND tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp như: tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuê đất để sản xuất, xây dựng các cơ sở chế biến nông sản, đưa nông sản vào các trung tâm phân phối lớn (Big C, Coopmart...)

Thông qua các quỹ khuyến nông, khuyến công để giúp đỡ doanh nhiệp cũng như nông dân tiếp cận với khoa học công nghệ, với các phương thức sản xuất tiên tiến, hỗ trợ trong khâu thu hoạch và chế biến nông sản.

Điển hình trong sản xuất lúa, một số HTX nông nghiệp ở Phú Vang, Hương Thủy,… đã liên kết với các doanh nghiệp như Công ty CP Giống cây trồng vật nuôi, Công ty Lương thực tỉnh, Công ty CP Vật tư nông nghiệp tỉnh, Tập đoàn Quế Lâm… để sản xuất lúa gạo theo mô hình cánh đồng mẫu lớn. Ngoài ra, mô hình Rau má an toàn theo hướng VietGAP tại HTX Quảng Thọ cũng đã mở ra hướng sản suất bền vững, tạo thương hiệu nông nghiệp sạch, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, bước đầu thành công theo mô hình chuỗi liên kết “4 nhà”. Trong chăn nuôi thì có mô hình liên kết chăn nuôi lợn giữa các doanh nghiệp và người dân (Công ty CP chăn nuôi C.P Việt Nam, Công ty Thái Việt SWINLINE, Công ty thức ăn chăn nuôi GreenFeed…) cũng đã góp phần tăng số lượng và chất lượng đàn lợn của tỉnh…

Tuy nhiên, việc liên kết tiêu thụ sản phẩm cho nông dân vẫn còn lỏng lẻo, tỷ lệ nông sản hàng hóa tiêu thụ qua liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản giữa nông dân với doanh nghiệp còn thấp; chưa phát triển sâu rộng; kết quả đạt được vẫn còn chưa cao. Để việc gắn kết doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đạt hiệu quả tốt hơn, cũng như để thực hiện tốt mô hình chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ trong phát triển sản xuất nông nghiệp, thời gian đến, chúng tôi sẽ chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách thúc đẩy sản xuất, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vào nông nghiệp ở một số lĩnh vực lợi thế, sản phẩm chủ lực của từng địa phương, từng vùng. Thực hiện tốt công tác quy hoạch và rà soát bổ sung quy hoạch, xây dựng “Cánh đồng lớn”, hình thành vùng sản xuất tập trung, tạo ra các sản phẩm mang tính hàng hoá cao; huy động các nguồn vốn hỗ trợ cho nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất; làm tốt công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường.

- Nâng cao chất lượng trong liên kết giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp hướng đến liên kết bền vững. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược dài hạn và kế hoạch hoạt động phù hợp với thị trường trong và ngoài nước. Trước mắt khuyến khích các hợp tác xã có đủ năng lực tham gia thực hiện chuỗi liên kết với tư cách như là một doanh nghiệp vừa cung ứng các dịch vụ đầu vào vừa tổ chức tiêu thụ sản phẩm.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người nông dân về khoa học công nghệ, năng lực sản xuất; thay đổi tập quán sản xuất truyền thống và phải tuân thủ quy trình sản xuất, ràng buộc của doanh nghiệp; Bên cạnh đó, nông dân cũng cần năng động liên kết lại với nhau như hợp tác xã, tổ hợp tác hay nhóm nông dân sản xuất nhằm tăng khả năng cạnh tranh.

- Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp nhằm tiếp tục thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào vùng nông thôn. Đồng thời, thông qua các nguồn lực, chương trình, dự án, Nhà nước và nhân dân sẽ cùng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và nông dân trong phát triển sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản… 

Câu hỏi của bạn Công ty cổ phần thủy điện Trường Phú, :

Việc kê khai bù trừ thuế GTGT đầu ra, bù trừ số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế phát sinh trên tờ khai 01/GTGT như thế nào? 

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Căn cứ Khoản 3, Điều 18 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính:

Căn cứ Khoản 3, Điều 1, Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016  Hướng dẫn Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế và sửa đổi một số điều tại các Thông tư về thuế.

Căn cứ Tiết c, Khoản 3, Điều 11, Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2016.

Căn cứ quy định trên, trường hợp công ty có dự án đầu tư thì kê khai riêng và phải bù trừ với thuế phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh. Số thuế kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.

Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư theo quy định về hoàn thuế GTGT, nếu không được hoàn thuế GTGT theo quy định thì được chuyển khấu trừ cho kỳ tính thuế sau.

Câu hỏi của bạn Nguyễn Quốc Bình, quocbinh_12@gmail.com:

Những dự án nào thuộc diện phải thực hiện đánh giá tác động môi trường? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lê Bá Phúc:

Căn cứ Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, các dự án thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường bao gồm:

a) Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

b) Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;

c) Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường.

Việc xác định các đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường được quy định cụ thể tại Phụ lục II Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Câu hỏi của bạn Nguyễn Văn Huy, Mang cá, huế:

Công ty chúng tôi mua hàng hóa tặng cho nhân viên nhân các dịp lễ tết (có đầy đủ chứng từ như: hợp đồng, hóa đơn GTGT đầu vào và chứng từ thanh toán qua ngân hàng), vậy khi phát hàng hoá cho nhân viên thì Công ty có phải lập hóa đơn tính thuế GTGT như bán hàng hóa cho khách hàng không?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Phạm Minh Kiên:

Căn cứ Khoản 3, Điều 7, Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính:

“…3. Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ (kể cả mua ngoài hoặc do cơ sở kinh doanh tự sản xuất) dùng để trao đổi, biếu, tặng, cho, trả thay lương, là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại  thời điểm phát sinh các hoạt động này.

Căn cứ Khoản 5, Điều 14:

“...5. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá (kể cả hàng hoá mua ngoài hoặc hàng hoá do doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng để cho, biếu, tặng, khuyến mại, quảng cáo dưới các hình thức, phục vụ cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ.”

Căn cứ Điểm b, Phụ lục 2.4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31  tháng 3 năm 2014 của Bộ Tài chính:

2.4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, cho, biếu, tặng và tiêu dùng nội bộ đối với tổ chức kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

b) Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ thì phải lập hoá đơn GTGT (hoặc hoá đơn bán hàng), trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng.

   Căn cứ quy định trên thì trường hợp công ty có mua hàng hóa tặng cho nhân viên nhân dịp lễ, tết; có đầy đủ hóa đơn và thanh toán qua ngân hàng thì được khấu trừ thuế GTGT theo quy định và khi tặng phải xuất hóa đơn GTGT đầu ra như xuất bán hàng hóa dịch vụ cho khách hàng.

Câu hỏi của bạn Đức Lâm, Tây Lộc, Huế:

Đề nghị cho biết cụ thể về thủ tục giao đất, thu hồi đất ở ngoài các khu công nghiệp của tỉnh cho nhà đầu tư để làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lê Bá Phúc:

Trình tự thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giao đất, cho thuê đất:

1. Trường hợp dự án được thu hồi đất theo Điều 62, 63 Luật đất đai năm 2013, sau khi UBND tỉnh có Quyết định chủ trương đầu tư, Chủ đầu tư phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 25 tháng 9 năm 2014 của UBND tỉnh về trình tự, thủ tục thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Sau khi hoàn thành việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị giao đất, cho thuê đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường. Thành phần hồ sơ như sau:

- Đơn xin giao đất hoặc cho thuê đất (theo mẫu) (02 Bản chính);

- Văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư (02 Bản sao) hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (02 Bản sao);

- Văn bản xác nhận của UBND cấp huyện về việc đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng (02 Bản sao);

- Dự án đầu tư và Quyết định phê duyệt dự án đầu tư theo quy định (02 Bản sao);

- Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (07 Bản chính);

- Báo cáo ĐTM được phê duyệt hoặc bản đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận (02 Bản sao);

- Giấy phép thành lập doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (02 Bản sao).

Thời gian giải quyết thủ tục giao đất, cho thuê đất không quá 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

2. Đối với các dự án không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất, sau khi có văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND tỉnh, nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tự thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất theo quy định sau:

a) Trường hợp người sử dụng đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng chuyển nhượng được công chứng.

a1) Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính liên quan, nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị đăng ký biến động hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường. Thành phần hồ sơ như sau:

- Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản khác gắn liền với đất (theo mẫu) (02 Bản chính);

- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (01 Bản sao);

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của người chuyển nhượng (01 Bản chính);

- Văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND tỉnh (01 Bản sao).

Thời gian giải quyết thủ tục đăng ký biến động hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

a2) Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường. Thành phần hồ sơ như sau:

- Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất (theo mẫu) (02 Bản chính);

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (02 Bản sao);

- Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (02 Bản chính);

- Văn bản chấp thuận của UBND tỉnh cho phép thực hiện dự án hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (02 Bản sao);

- Dự án đầu tư và Quyết định phê duyệt dự án đầu tư theo quy định (02 Bản sao);

- Báo cáo ĐTM được phê duyệt hoặc bản đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận (02 Bản sao);

- Giấy phép thành lập doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (02 Bản sao).

Thời gian giải quyết thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

b) Trường hợp người sử dụng đất không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đất không thuộc trường hợp được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai, trình tự thủ tục thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất và giao đất, cho thuê đất được thực hiện như sau:

b1) Nhà đầu tư thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất thông qua hợp đồng được ký kết giữa hai bên, chủ sử dụng đất có văn bản trả lại đất cho Nhà nước;

b2) Nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị thu hồi đất tại cơ quan Tài nguyên và Môi trường để được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất;

b3) Sau khi thực hiện xong việc thu hồi đất, nhà đầu tư nộp hồ sơ tại Sở Tài nguyên và Môi trường. Thành phần hồ sơ như sau:

- Đơn xin giao đất hoặc cho thuê đất (theo mẫu) (02 Bản chính);

- Văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư (02 Bản sao) hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (02 Bản sao);

- Văn bản xác nhận của UBND cấp huyện về việc đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng (02 Bản sao);

- Dự án đầu tư và Quyết định phê duyệt dự án đầu tư theo quy định (02 Bản sao);

- Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (07 Bản chính);

- Báo cáo ĐTM được phê duyệt hoặc bản đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận (02 Bản sao);

- Giấy phép thành lập doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (02 Bản sao).

Thời gian giải quyết thủ tục giao đất, cho thuê đất không quá 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Câu hỏi của bạn Lê Thị Hòa, Thành phố Huế:

Kính gửi: Ông: Nguyễn Văn Cao - Chủ tịch UBND tỉnh Tôi tên là: Lê Thị Hòa, hiện trú tại 53 Trần Nguyên Hãn, Phường Thuận Hòa, Thành Phố Huế, ĐT: 093.567.8384 Tôi viết đơn này xin trình bày với Ông một việc như sau: Ngày 31/10/2016 Tôi có đến tại bộ phận một cửa của UBND thành phố Huế tại ô số 4 gặp Ông Nguyễn Hữu Thông để nộp hồ sơ đề nghị đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh, với nội dung đăng ký là: Phòng khám B.S. Lê Thừa Trung Hậu, ngành nghề kinh doanh là khám chữa bệnh (Hồ sơ photo đính kèm). Tuy nhiên bộ phận tiếp nhận hồ sơ từ chối nhận hồ sơ của tôi với lý do là tôi chưa có giấy phép hành nghề kinh doanh khám chữa bệnh Đến ngày 02/11/2016 Tôi đến nộp lại hồ sơ trên và có mang theo trích dẫn các quy định về đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh để trình bày với Ông Nguyễn Hữu Thông được rõ và nhận hồ sơ của Tôi. Tuy nhiên Ông Nguyễn Hữu Thông vẫn từ chối nhận hồ sơ của Tôi. Tôi có yêu cầu Ông Nguyễn Hữu Thông ghi rõ cho tôi lý do không chấp nhận hồ sơ của Tôi nhưng Ông từ chối và Tôi lại phải đi về. Căn cứ vào các quy định thì trong hồ sơ đề nghị đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh không yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện kèm theo mà chủ hộ kinh doanh chỉ được phép kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện kể từ khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động. Như vậy, Hồ sơ đề nghị đăng ký hộ kinh doanh của Tôi gửi đến bộ phận một cửa của UBND thành phố Huế là hòan tòan đúng quy định và việc từ chối nhận hồ sơ của Tôi vì lý do trong hồ sơ đề nghị đăng ký kinh doanh của Tôi chưa có giấy phép kinh doanh nghành nghề có điều kiện là không đúng với quy định đã được ban hành và đang có hiệu lực thi hành. Vậy kính mong Ông xem xét và chỉ đạo giải quyết cho tôi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kịp thời và theo đúng quy định hiện hành. Xin cảm ơn Ông./.

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Tại Điều 71 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký Doanh nghiệp quy định:
“Điều 71. Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh
1. Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh. Nội dung Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh gồm:
a) Tên hộ kinh doanh, địa chỉ địa điểm kinh doanh; số điện thoại, số fax, thư điện tử (nếu có);
b) Ngành, nghề kinh doanh;
c) Số vốn kinh doanh;
d) Số lao động;
đ) Họ, tên, chữ ký, địa chỉ nơi cư trú, số và ngày cấp Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân thành lập hộ kinh doanh đối với hộ kinh doanh do nhóm cá nhân thành lập, của cá nhân đối với hộ kinh doanh do cá nhân thành lập hoặc đại diện hộ gia đình đối với trường hợp hộ kinh doanh do hộ gia đình thành lập.
Kèm theo Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh phải có bản sao hợp lệ Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ gia đình và bản sao hợp lệ biên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanh đối với trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập.
2. Khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện trao Giấy biên nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu có đủ các điều kiện sau đây:
a) Ngành, nghề kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh;
b) Tên hộ kinh doanh dự định đăng ký phù hợp quy định tại Điều 73 Nghị định này;
c) Nộp đủ lệ phí đăng ký theo quy định.
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hộ kinh doanh.
3. Nếu sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh thi người đăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”.
Theo bạn trình bày thì ngành, nghề kinh doanh của bạn là khám chữa bệnh (mã ngành 8620, theo Quyết định 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt nam) không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh (theo Điều 6 Luật Đầu tư 2014).
Vì vậy, nếu bạn nộp hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 71 Nghị định 78/2015/NĐ-CP nói trên của Chính phủ thì cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho bạn trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ. Nếu sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh thì người đăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Ngay sau buổi đối thoại này, UBND tỉnh sẽ có văn bản chỉ đạo Chủ tịch UBND thành phố Huế xem xét, xử lý vấn đề mà bạn nêu. Với tinh thần là tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Câu hỏi của bạn Công ty TNHH Khang an, Công ty TNHH Khang an:

Xin cho biết trình tự, thủ tục xin cấp phép cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và những trường hợp nào thuộc diện miễn cấp phép lao động? 

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Xuân Quang:

1. Trình tự làm thủ tục cấp phép cho người lao động nước ngoài bao gồm 02 bước.

Bước 1. Đăng ký nhu cầu sử dụng lao động là người nước ngoài:

Việc xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp quy định tại Nghị định 11/2016/NĐ-CP là phải có văn bản Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận cho người sử dụng lao động về việc sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc. Người sử dụng lao động (trừ nhà thầu) có trách nhiệm xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và báo cáo giải trình với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc. Trong quá trình thực hiện nếu thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài thì người sử dụng lao động phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tuy nhiên, ngày 03 tháng 3 năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã có Công văn số 952/UBND-XH về việc ủy quyền Sở Lao động-Thương binh và Xã hội xem xét, chấp thuận nhu cầu sử dụng người nước ngoài của các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Hồ sơ xin chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động là người nước ngoài theo Mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH ngày 21/01/2014.

Bước 2. Hồ sơ đề nghị cấp phép lao động:

Hồ sơ gồm có:

a. Văn bản đề nghị cấp giấy phép lao động của người sử dụng lao động theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Mẫu số 6 Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH.

b. Giấy chứng nhận sức khỏe hoặc giấy khám sức khỏe do cơ quan, tổ chức y tế có thẩm quyền của nước ngoài hoặc của Việt Nam cấp có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày ký kết luận sức khỏe đến ngày nộp hồ sơ.

Giấy chứng nhận này được cấp tại cơ sở khám bệnh do Bộ Y tế quy định tại Công văn số 1024/KCB-PHCN&GĐ ngày 31/8/2015.

Người lao động nước ngoài có thể khám bệnh tại cơ sở khám chữa bệnh ở nước ngoài nhưng giấy khám sức khỏe này phải được hợp pháp hóa lãnh sự.

c. Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người lao động nước ngoài không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự của nước ngoài cấp. Trường hợp người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp do Việt Nam cấp.

Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người lao động nước ngoài không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự được cấp không quá 06 tháng, kể từ ngày cấp đến ngày nộp hồ sơ.

Nếu lý lịch tư pháp do nước ngoài cấp thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự.

d. Văn bản chứng minh là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật. Văn bản này phải do tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp nước ngoài xác nhận và phải được hợp pháp hóa lãnh sự.

đ. 02 ảnh mầu (kích thước 4cm x 6cm, phông nền trắng), ảnh chụp không quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ.

e. Bản sao có chứng thực hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế còn giá trị theo quy định của pháp luật.

2. Những người thuộc diện miễn cấp phép:

a. Những người thuộc diện miễn cấp giấy phép được quy định tại Điều 172 của Bộ luật Lao động:

- Là thành viên góp vốn hoặc là chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn.

- Là thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần.

- Là Trưởng văn phòng đại diện, dự án của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam.

- Vào Việt Nam với thời hạn dưới ba tháng để thực hiện chào bán dịch vụ.

- Vào Việt Nam với thời hạn dưới ba tháng để xử lý những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được.

- Là luật sư nước ngoài đã được cấp giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật luật sư.

- Theo quy định của Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Là học sinh, sinh viên học tập tại Việt Nam làm việc tại Việt Nam nhưng người sử dụng lao động phải báo trước 07 ngày với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

- Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

b. Các trường hợp người lao động nước ngoài khác không thuộc diện cấp giấy phép lao động, bao gồm:

- Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới, bao gồm: kinh doanh, thông tin, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, tài chính, y tế, du lịch, văn hóa giải trí và vận tải;

- Vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) theo quy định hay thỏa thuận trong các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài;

- Được Bộ Ngoại giao cấp giấy phép hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam theo quy định của pháp luật;

- Được cơ quan, tổ chức của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu ti trường quốc tế thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam hoặc được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục, đào tạo tại Việt Nam;

- Tình nguyện viên có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam;

- Vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm;

- Vào Việt Nam thực hiện thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh ký kết theo quy định của pháp luật;

- Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam;

- Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam làm việc sau khi được Bộ Ngoại giao cấp phép, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;

- Có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

- Các trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Câu hỏi của bạn tranquocthanhtra@gmail.com, :

Trước tiên xin gửi lời chúc sức khỏe đến lãnh đạo tỉnh, các sở ban ngành. Bản thân là một người công dân của địa phương, tôi rất hoan nghênh và ủng hộ lãnh đạo tỉnh đã tổ chức các buổi đối thoại này qua đó có những ý kiến góp ý, phản hồi của doanh nghiệp, công dân để lãnh đạo tỉnh có những định hướng làm cho kinh tế tỉnh nhà ngày càng phát triển. Tuy nhiên thời gian qua bản thân tôi nhận thấy một số chính sách, thực thi công vụ của cán bộ, công chức ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể:

- Đối với lực lượng CSGT Công an tỉnh, Công an thành phố có quá nhiều chốt chặn trên địa bàn qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp địa phương và hình ảnh của tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, kính mong đồng chí Nguyễn Văn Cao làm việc trực tiếp với Ban Giám đốc Công an tỉnh để hạn chế tình trạng trên, có nên chỉ có từ 01 trạm trên địa bàn.

- Đối với cán bộ, công chức cần phải tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính chỉ đạo các cơ quan tham mưu thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính.

Một số kiến nghị:

- Cần có chính sách thu hút nhân tài, chú trọng đến việc tuyển dụng hoặc dự nguồn đối với học sinh, sinh viên đạt thành tích cao trong học tập (tương tự như Thành ủy đang triển khai); đặc biệt là cán bộ, công chức thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh cần phải giỏi và có tư duy tốt để tham mưu lãnh đạo tỉnh xử lý công việc được tốt hơn tránh như tình trạng hiện nay;

- Công tác thi đua khen thưởng phải gắn với tiến độ, chất lượng công việc được giao của các cơ quan chuyên môn, các đơn vị, địa phương.

- Hiện nay nội lực trong dân về phát triển kinh doanh còn hạn chế, thiết nghĩ UBND tỉnh cần tổ chức các hoạt động tuyên truyền để người dân nhận thức, nâng cao năng lực làm cho hoạt động kinh doanh trên địa bàn ngày càng sôi động, tạo động lực cho kinh tế địa phương phát triển.

Trên đây là một số ý kiến kiến nghị kính mong lãnh đạo tỉnh, các sở ban ngành quan tâm và có ý kiến chỉ đạo nhằm tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp, cá nhân làm cho Huế ngày càng phát triển.

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Thay mặt lãnh đạo UBND tỉnh, tôi xin hoan nghênh và tiếp thu các kiến nghị của bạn.

1. Liên quan đến việc bạn phản ánh “Đối với lực lượng CSGT Công an tỉnh, Công an thành phố có quá nhiều chốt chặn trên địa bàn qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp địa phương và hình ảnh của tỉnh TT Huế. Do đó, kính mong đồng chí Nguyễn Văn Cao làm việc trực tiếp với Ban Giám đốc Công an tỉnh để hạn chế tình trạng trên, có nên chỉ có từ 01 trạm trên địa bàn”. Về vấn đề này chúng tôi sẽ chỉ đạo Công an tỉnh xem xét lại việc bố trí các chốt chặn trên địa bàn tỉnh để vừa đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao của lực lượng CSGT mà vẫn không làm cản trở hoạt động giao thông đi lại của người dân cũng như của doanh nghiệp.

2. Đối với các ý kiến khác mà bạn nêu về công tác thu hút nhân tài, tuyển dụng, công tác cán bộ, thi đua, khen thưởng; về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động thực thi công vụ,… chúng tôi xin làm rõ hơn với bạn như sau:

- Về công tác thu hút nhân tài, tuyển dụng, công tác cán bộ: Tỉnh đã có những chính sách cộng điểm ưu tiên xét tuyển cho những người có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi; người tốt nghiệp thủ khoa đại học ở trong nước và tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước ngoài; người có kinh nghiệm công tác, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao... Đã thực hiện thí điểm thi tuyển chọn chức danh lãnh đạo cấp phòng tại một số sở, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh.

- Về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động thực thi công vụ: UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản, trong đó đáng chú ý là Chỉ thị 51/2012/CT-UBND ngày 28/12/2012 của UBND tỉnh về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thi hành công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn của tỉnh và mới đây nhất, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 165/KH-UBND ngày 12/11/2016 thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Kết quả, phần lớn các cơ quan, đơn vị, địa phương đã thực hiện tương đối nghiêm túc Chỉ thị, nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh về kỷ cương, kỷ luật hành chính có những chuyển biến rõ nét, từng bước nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác, tạo niềm tin của nhân dân vào bộ máy chính quyền địa phương và các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ quan, đơn vị, địa phương, đặc biệt là ở cấp chính quyền cơ sở thực hiện chưa nghiêm; phong cách, thái độ của một số cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành công vụ chưa chuẩn mực, điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như gây ách tắc, phiền hà cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Để chấm dứt tình trạng trên, trong thời gian tới UBND tỉnh sẽ chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện tốt các giải pháp sau:

- Chủ động trong việc phát hiện các cá nhân vi phạm, phải thực sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành và xử lý nghiêm các trường hợp khi phát hiện vi phạm; tránh tình trạng nể nang, né tránh, bao che cấp dưới.

- Tiếp tục tăng cường tuyên truyền để quán triệt đến từng cán bộ, công chức, viên chức tự giác thực hiện Chỉ thị 51.

- Thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận các phản ánh kiến nghị của nhân dân nhằm kiểm tra, xử lý kịp thời các cá nhân vi phạm.

3. Đối với việc thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh thì tỉnh Thừa Thiên Huế dành sự quan tâm rất lớn đến vấn đề này và đã chọn năm 2016 làm "Năm doanh nghiệp". Để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, Lãnh đạo tỉnh đã có nhiều chương trình, kế hoạch và các giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích và thúc đẩy khởi nghiệp; đồng thời tạo mọi thuận lợi để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút các nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư chiến lược đến đầu tư và kinh doanh tại tỉnh nhà.

Mặc dù kết quả bước đầu đã có sự chuyển biến, nền kinh tế của tỉnh đã có mức tăng trưởng, nhiều chỉ tiêu về phát triển doanh nghiệp, về khởi nghiệp, về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp đã có những kết quả nhất định. Song việc triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa thực sự đem lại nhiều hiệu quả như kỳ vọng. Bên cạnh đó, giữa năm 2016, cùng với một số tỉnh Bắc Trung bộ, Thừa Thiên Huế phải đối mặt với sự cố môi trường biển đã làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đời sống của người dân, nhất là đối với hoạt động du lịch biển và đánh bắt hải sản.

Thời gian tới, Tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm và chỉ đạo các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan nỗ lực hơn nữa, phối hợp và đẩy mạnh việc khắc phục những bất cập, những tồn tại được quý vị nêu liên quan đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh; kịp thời có những biện pháp hữu hiệu trong chỉ đạo, điều hành cho phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu chính đáng của các doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Đặc biệt là tập trung đơn giản hóa, giảm thiểu giấy tờ, rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực hiện các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực; nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; đổi mới lề lối làm việc; thường xuyên gắn kết, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý với cộng đồng doanh nghiệp để có thể tháo gỡ kịp thời mọi vướng mắc của quý vị. Bên cạnh đó Tỉnh cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp phong trào khởi nghiệp tại Tỉnh ngày càng phát triển sâu rộng, hiệu quả; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, ổn định, tự do sáng tạo cho doanh nghiệp khởi nghiệp.

Câu hỏi của bạn Nguyễn Bá Hùng, bahung26@gmail.com: Doanh nghiệp chúng tôi dự kiến sẽ xây dựng bếp ăn tập thể để phục vụ bữa ăn ca cho công nhân. Xin cho biết các quy định các tiêu chuẩn an toàn cần có của một bếp ăn tập thể? 

Trả lời của lãnh đạo Sở Y tế:

Để tổ chức một bếp ăn tập thể phục vụ bữa ăn cho người lao động, doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định đảm bảo an toàn thực phẩm của Bộ Y tế, cụ thể như sau:

1. Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12/9/2012 của Bộ Y tế Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

2. Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012 của Bộ Y tế Quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố.

Trong đó quy định, bếp ăn tập thể cần đạt yêu cầu:

- Điều kiện về cơ sở vật chất: khu vực chế biến và phục vụ phải cách xa các khu vực ô nhiễm bụi, hóa chất độc hại và các nguồn gây ô nhiễm khác; phải có kết cấu vững chắc, đảm bảo đủ nguồn nước sạch phục vụ chế biến thực phẩm,...

- Trang thiết bị dụng cụ: được chế tạo bằng vật liệu không độc, ít bị mài mòn, không bị han gỉ, không thôi nhiễm các chất độc hại vào thực phẩm, không gây mùi lạ hay làm biến đổi thực phẩm,….

- Điều kiện con người: Chủ cơ sở và nhân viên trực tiếp chế biến và phục vụ có khám sức khỏe và xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm theo đúng quy định...

Đồng thời, thiết kế bếp ăn tập thể phải có khu sơ chế nguyên liệu thực phẩm, khu chế biến nấu nướng, khu bảo quản thức ăn; khu ăn uống; kho nguyên liệu thực phẩm, kho lưu trữ bảo quản thực phẩm bao gói sẵn riêng biệt; khu vực rửa tay và nhà vệ sinh phải cách biệt với khu chế biến thực phẩm.

Nơi chế biến thức ăn phải được thiết kế theo nguyên tắc một chiều; có đủ dụng cụ chế biến, bảo quản và sử dụng riêng đối với thực phẩm tươi sống và thực phẩm đã qua chế biến; có đủ dụng cụ chia, gắp, chứa đựng thức ăn, dụng cụ ăn uống bảo đảm sạch sẽ, thực hiện chế độ vệ sinh hàng ngày; có đủ trang thiết bị phòng chống ruồi, dán, côn trùng và động vật gây bệnh; thực hiện chế độ kiểm thực 3 bước, lưu mẫu thực phẩm theo đúng quy định,…

Câu hỏi của bạn Nguyễn Thị Thủy, 197/2 bùi thị xuân_Phường Đúc_Thành Phố Huế:

Tôi là chủ cơ sở thủy sản của doanh nghiệp Thủy Chính hiện đang hoạt động tại Cảng cá Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vừa qua đợt biển nhiễm độc, cá chết doanh nghiệp tôi bị lưu kho, hủy cá và ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh rất lâu, gây thiệt hại lớn. Theo Quyết định số 1880/QĐ-TTg ban hành về định mức bồi thường thiệt hại của Thủ tướng Chính phủ. Tất cả những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều thuộc Điểm 4 và Điểm 7, Điều 1 của Quyết định đối tượng thiệt hại được xác định bồi thường nhưng tôi không hiểu lý do tại sao doanh nghiệp tôi không được nhắc tới và bồi thường như trong quyết định?

Trả lời của lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

Theo nội dung câu hỏi, bà Nguyễn Thị Thủy là chủ cơ sở của Doanh nghiệp Thủy Chính, hoạt động thu mua tạm trữ thủy sản có kho cấp đông thủy sản tại Cảng cá Thuận An, bị thiệt hại trong thời điểm xảy ra sự cố môi trường, hàng thủy sản phải lưu kho, hủy cá và ngừng hoạt động.

Căn cứ Quyết định số 1880/QĐ-TTg ngày 29 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức bồi thường thiệt hại cho các đối tượng tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế bị thiệt hại do sự cố môi trường biển, thì bà Nguyễn Thị Thủy thuộc nhóm đối tượng được hỗ trợ, bồi thường. Theo Khoản 3, Điều 4 của Quyết định này quy định: "Đối với các đối tượng thực sự bị thiệt hại do ảnh hưởng sự cố môi trường biển nhưng chưa được xác định, kê khai thiệt hại do còn vướng mc, chưa có cơ sở xây dựng định mức bồi thường thiệt hại, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn các địa phương xác định thiệt hại cụ thể; trên cơ sở báo cáo đề xuất của các địa phương, Bộ Tài chính cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng định mức bồi thường báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong năm 2016".

Do vậy, đề nghị Bà tạm chờ để được bồi thường khi có quyết định chính thức của Thủ tướng Chính phủ ban hành định mức bổ sung.

Câu hỏi của bạn Trương Công Tùng, Thôn Phú Hải xã Lộc Vĩnh huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế:

Tôi là một ngư dân đánh bắt thủy hải sản, tôm hùm con (giống), trên vùng Cảng Chân Mây hơn mười năm nay, tài sản của tôi là thuyền nan không lắp máy và ngư cụ (đáy rớ). Vừa qua, trước 1 tháng sau khi xảy ra sự cố môi trường biển, bản thân tôi bị bệnh đột xuất nên không khai thác được. Vậy tôi xin hỏi các cơ quan chức năng trả lời cho tôi biết, trường hợp như tôi có được hưởng chế độ bồi thường không? Hiện nay tôi không có trong danh sách bồi thường, kính thưa quý lãnh đạo xã Lộc Vĩnh nói chung và thôn Phú Hải nói riêng là ngư dân đánh bắt tôm hùm con chiếm hết 80% chính thức vào vụ đầu tháng 11 âm lịch cho đến cuối tháng 2 âm lịch hằng năm là hết mùa, thì lúc đó tất cả các ngư dân đưa ngư cụ về nhà, tìm việc khác làm ăn cho đến bây giờ, khi xảy ra sự cố môi trường biển là đầu tháng 4 dương lịch thì 80% ngư dân đó nghỉ trước 01 tháng sau khi xảy ra sự cố môi trường biển như tôi, tại sao 80% ngư dân đó lại được bồi thường, mà gia đình tôi thì không? cho tôi xin hỏi các cơ quan chức năng trường hợp 80% ngư dân đó có giống và khác gì với gia đình tôi hay không? 

Trả lời của lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

Qua tìm hiểu việc hỗ trợ do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển tại thôn Phú Hải, xã Lộc Vĩnh (ông Lê Công Minh, Chủ tịch UBND xã Lộc Vĩnh), thôn đã tổ chức họp xét đối tượng hỗ trợ theo các tiêu chí quy định, có biên bản và danh sách hỗ trợ được thôn nhất trí thông qua. Tuy nhiên hộ ông Trương Công Tùng không được thôn xét đưa vào đối tượng được hưởng hỗ trợ của Nhà nước với lý do: Hộ ông Trương Công Tùng đã nghỉ đánh bắt tôm hùm con và chuyển sang làm ăn sinh sống với công việc khác không liên quan đến đánh bắt hải sản trên biển hơn 1 năm.

Liên quan đến việc 80% ngư dân khác cũng làm nghề đánh bắt tôm hùm con lại được hỗ trợ, lý do: các hộ này ngoài việc đánh bắt tôm hùm con, họ còn thực hiện các hình thức khai thác hải sản khác trên biển để phục vụ cuộc sống gia đình.

Câu hỏi của bạn Hoàng Quý, Phạm Ngũ Lão:

Tỉnh Thừa Thiên Huế xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Để tạo động lực cho doanh nghiệp du lịch đầu tư và phát triển kinh doanh, thiết nghĩ việc xây dựng cơ sở hạ tầng là điều khá quan trọng. Tuy nhiên, đến nay vấn đề đó tôi thấy chưa thực sự được quan tâm đầu tư đúng mức tại Thừa Thiên Huế. Cụ thể là nhiều người dân và cả du khách có ý kiến cho rằng hệ thống chiếu sáng của thành phố, tại các điểm di tích và các nơi công cộng quá thiếu và chưa tạo điểm nhấn, mỹ quan… Vậy tôi xin hỏi lãnh đạo Tỉnh cho biết sự quan tâm như thế nào đối với những trăn trở nói trên, sẽ có dự án, giải pháp nào để cải thiện tình trạng thành phố quá tối nói riêng, cũng như đối với việc xây dựng, chỉnh trang cơ sở hạ tầng…

Trả lời của lãnh đạo UBND thành phố Huế:

1. Thực trạng chiếu sáng công cộng trên địa bàn thành phố:

Theo kết quả tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá phân loại đô thị loại I; đối với thành phố Huế có nhiều tiêu chí vượt trội so với quy định, khẳng định vai trò của thành phố Huế là trung tâm văn hóa, du lịch lớn của cả nước, trung tâm y tế, giáo dục, đặc trưng về không gian kiến trúc đô thị và cảnh quan môi trường sinh thái, như: Chỉ tiêu về sử dụng đất; cơ sở Y tế - Giáo dục - Đào tạo; công trình văn hóa; đất cây xanh đô thị; không gian công cộng đô thị; các công trình di sản;...

Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu đô thị chưa đạt, do đặc thù đô thị Huế như: Hệ thống đường giao thông nhỏ hẹp, mật độ đường có lộ giới ≥11,5m là chưa cao; trong đó có hệ thống chiếu sáng công cộng (gồm chiếu sáng giao thông, chiếu sáng không gian đô thị, chiếu sáng cảnh quan, chiếu sáng các công trình lịch sử, văn hóa,…). Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng 98% (265,3km/467 tuyến); tuy nhiên do thiết bị có công nghệ cũ, được đầu tư khá lâu, nên chỉ mới đáp ứng được độ phủ sáng, còn chất lượng, cường độ chiếu sáng vẫn chưa đảm bảo. Tỷ lệ các ngõ hẻm đạt khá thấp khoảng 20,4% (2.360 kiệt, đường liên tổ/400km đường BTXM).

Thực trạng, hệ thống chiếu sáng các không gian công cộng, chiếu sáng các công trình kiến trúc, trong đó có các công trình di tích lịch sử,… của Huế còn thiếu và yếu. Mặt khác, hệ thống điện chiếu sáng được đầu tư khá lâu (> 15 năm) đã xuống cấp nhưng thiếu kinh phí cải tạo nâng cấp; hệ thống điện trang trí cầu Trường Tiền đã bị hư hỏng sau 14 năm vận hành.

Ý kiến cho rằng “hệ thống chiếu sáng Thành phố tại các điểm di tích và các nơi công cộng quá thiếu và chưa tạo điểm nhấn, mỹ quan” là đúng với thực tế.

2. Các giải pháp:

- Hàng năm Thành phố đã bố trí một phần kinh phí triển khai đầu tư hệ thống điện chiếu sáng đường kiệt; thay thế hệ thống điện chiếu sáng các tuyến đường trung tâm như: Lê Lợi, Hùng Vương, Chu Văn An, Phạm Ngũ Lão, Võ Thị Sáu, Lê Quý Đôn, Điện Biên Phủ, chỉnh trang chiếu sáng các công viên, điểm xanh,... Sử dụng loại bóng đèn LED tiết kiệm điện, đảm bảo độ chiếu sáng các tuyến đường về đêm. Về lâu dài, Thành phố đã xây dựng kế hoạch đầu tư hệ thống điện giai đoạn 2016-2020 đăng ký kế hoạch đầu tư trung hạn của Tỉnh.

- Thành phố đang tích cực tìm nguồn vốn để triển khai dự án thay thế hệ thống đèn chiếu sáng mỹ thuật cầu Trường Tiền; các nguồn vốn tài trợ khác của Hàn Quốc về đầu tư, thay thế hệ thống chiếu sáng đô thị theo công nghệ mới.

- Hiện nay, Chính phủ Hàn Quốc (thông qua tổ chức KOICA) đang tài trợ Thành phố Huế thực hiện dự án “Xây dựng mạng lưới kết nối hệ thống tuyến đường đi bộ phía bờ Nam sông Hương” (đoạn từ Bến Hề đến cà phê Lộng Gió) bao gồm cả hệ thống điện chiếu sáng, sẽ là một điểm nhấn về cảnh quan cho cả khu vực hai bờ sông Hương và trung tâm thành phố. Trên cơ sở hiệu quả của dự án này, sẽ xem xét đầu tư mở rộng ra các khu vực lân cận.

- Nguồn lực Thành phố còn hạn hẹp trong khi nhu cầu đầu tư rất lớn. Về điện chiếu sáng, hiện nay Thành phố còn hơn 200km đường kiệt, ngõ xóm chưa có điện chiếu sáng. Dân cư sinh sống trong khu vực này hầu hết còn nhiều khó khăn. Nhu cầu chiếu sáng của người dân tại đây là chính đáng và cần sớm đáp ứng. Từ năm 2013 đến nay, mỗi năm Thành phố đều bố trí ngân sách để đầu tư lắp mới điện chiếu sáng cho trên 25km đường kiệt, ngõ xóm. 

Câu hỏi của bạn Lê Tấn Hanh, Nguyễn Sinh Cung:

Thưa quý lãnh đạo tỉnh! Trong tình hình phát triển của tỉnh nhà hiện nay bên cạnh những thành tựu thì vẫn còn những hạn chế, chậm phát triển của KTXH tỉnh nhà, cụ thể như: Về công tác chỉnh trang đô thị, môi trường đô thị thực tế có nhiều thành tích được nhân dân khen ngợi, tuy vậy sự quan tâm, kiểm soát và thực hiện chưa tới nơi tới chốn. Tình trạng đường sá xuống cấp, chật hẹp thiếu đầu tư cải tạo nâng cấp nhất là các phường xã ngoại ô. Môi trường còn tổ chức chưa đạt, một số nơi thả lỏng quản lý gây tình trạng rác thải, nước thải ứ động mất vệ sinh, kém mỹ quan và mất an toàn. Xin cho biết chủ trương của tỉnh trong thời gian tới để khắc phục hạn chế này.

Trả lời của lãnh đạo UBND thành phố Huế:

1. Về đầu tư phát triển giao thông:

Hệ thống đường giao thông trên địa bàn Thành phố gồm: Hệ thống đường Quốc lộ, Tỉnh lộ, đường đô thị, đường trong các khu quy hoạch với tổng chiều dài tuyến: 265,3km/467 tuyến và hệ thống đường kiệt, đường liên tổ là 2.360 kiệt, đường liên tổ/400km đường chủ yếu là đường bê tông xi măng mác thấp, được đầu tư xây dựng từ các chương trình bê tông hóa đường kiệt từ năm 2001 đến 2010, mặt đường từ 2-5m. Thực tế do nhu cầu phát triển đô thị, gia tăng lưu lượng phương tiện, tải trọng làm hư hỏng xuống cấp đường, nhất là các phường ngoại ô.

Để giải quyết vấn đề này, Thành phố đã đưa vào Kế hoạch kinh tế - xã hội hàng năm triển khai Chương trình nâng cấp, mở rộng đường kiệt, Đề án vận động nhân dân hiến đất mở rộng đường (kế hoạch mỗi năm đầu tư nâng cấp, mở rộng từ 4-5km) từ năm 2010 đến 2016 đã phê duyệt đầu tư mở rộng 22 km, kinh phí 54 tỷ, đa số tập trung vào các phường ngoại ô như các phường: Hương Long, An Hòa, Hương Sơ, An Tây, Thủy Xuân, Thủy Biều,… từng bước cải thiện mạng lưới giao thông địa phương và chỉnh trang hạ tầng kỹ thuật (trong đó nhân dân hiến trên 16.746m2 đất, giá trị đất hiến mở rộng đường trên 14 tỷ đồng).

Hiện nay, UBND tỉnh đã phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 1174/QĐ-UBND ngày 24/06/2015. Theo quy hoạch này, nhu cầu vốn phát triển giao thông đô thị Huế là rất lớn, kinh phí là 1.622,947 tỷ đồng; Trên cơ sở Quyết định 47/2016/QĐ-UBND ngày 20/7/2016 của UBND tỉnh đã phân cấp cho Thành phố quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường đô thị Huế, Thành phố đã xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện quy hoạch giao thông vận tải thành phố Huế 2016 - 2020. Tuy nhiên, do tình hình ngân sách của Tỉnh và Thành phố còn nhiều khó khăn, do vậy nhu cầu nâng cấp các tuyến đường Thành phố đề xuất hàng năm khoảng 50 tỷ đồng (Kinh phí thành phố 10 tỷ đồng; Kinh phí của tỉnh hỗ trợ 40 tỷ đồng).

2. Về vấn đề vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Huế:

a) Nguyên nhân vẫn chưa đảm bảo:

- Hạ tầng kỹ thuật đô thị một số tuyến đường khu dân cư chưa đồng bộ, hư hỏng, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì, bảo đảm vệ sinh môi trường.

- Ý thức của đại bộ phận người dân về vấn đề vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế, việc vứt rác, đổ rác thải ra đường không đúng nơi, không đúng giờ thu gom vẫn còn khá phổ biến; thói quen đốt, rải vàng mã dưới lòng đường, vỉa hè chưa có chuyển biến giảm, ảnh hưởng đến vệ sinh, mỹ quan đô thị.

- Tình trạng các hộ bán hàng rong lấn chiếm, vứt, xả rác thải bừa bãi ra vỉa hè, lòng lề đường vẫn diễn ra thường xuyên trong ngày, gây mất trật tự đô thị và khó khăn cho công tác vệ sinh.

- Do khó khăn trong quỹ đất, hiện nay trên địa bàn Thành phố vẫn chưa quy hoạch được bãi tập kết chất thải rắn xây dựng để phục vụ nhu cầu đổ rác thải xây dựng của các tổ chức, cá nhân, mặc dù Thành phố đã nhiều lần chỉ đạo các đơn vị chuyên môn tham mưu, đề xuất. Do đó, tình trạng đổ rác thải xây dựng lên vỉa hè, lòng lề đường vẫn diễn ra ở một số điểm trên địa bàn Thành phố Huế, ảnh hưởng đến an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, gây bức xúc cho người dân.

b) Giải pháp:

- Thành ủy Huế đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 01/10/2013 về tăng cường xây dựng nếp sống văn minh đô thị, đảm bảo ATGT, TTĐT và VSMT trên địa bàn thành phố; Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 24/6/2016 của Thành uỷ Huế về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2016 - 2020”. Trong đó, có sự phân công, phân cấp, trách nhiệm của các cơ quan đơn vị, UBND các phường về vai trò, trách nhiệm trong quản lý trật tự đô thị, vệ sinh môi trường. Trong đó:

- Yêu cầu các phường:

+ Tăng cường công tác tuyên truyền về VSMT và TTĐT đến từng hộ dân.

+ Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính đối với các hộ kinh doanh lấn chiếm lòng đường, vỉa hè và các đối tượng đổ rác thải sinh hoạt, rác thải xây dựng không đúng nơi quy định.

- Công an Thành phố tăng cường công tác tuần tra, xử lý các trường hợp vi phạm về TTĐT, ATGT và VSMT.

- Sớm quy hoạch bãi tập kết chất thải rắn xây dựng ở phía Bắc và phía Nam phục vụ nhu cầu đổ rác thải xây dựng của các tổ chức, cá nhân.

- Quy hoạch, sắp xếp các tuyến phố kinh doanh ăn uống, giải khát, kinh doanh các mặt hàng và các điểm đậu đỗ xe cơ giới để đảm bảo TTĐT, ATGT và VSMT.

- Tăng cường công tác truyền thông về ý thức giữ gìn VSMT.

Câu hỏi của bạn LÊ THANH TRUNG, 2 TỐ HỮU:

Hiện nay, cứ trời mưa là rất nhiều các tuyến đường tại thành phố Huế đều bị ngập, người dân gặp khó khăn trong tham gia giao thông? Xin cho tôi hỏi lãng đạo tỉnh đã có giải pháp gì để khắc phục tình trạng này.

Trả lời của lãnh đạo UBND thành phố Huế:

1. Hiện trạng hệ thống thoát nước thành phố Huế:

Hệ thống thoát nước trên địa bàn Thành phố có chiều dài tổng cộng khoảng 220km, bao gồm cả hệ thống thoát nước cũ có từ rất lâu (trước 1975).

Về cơ bản, hệ thống này hiện vẫn đang hoạt động hết công suất và giải quyết được thoát nước trên địa bàn Thành phố. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như thời gian sử dụng kéo dài, san lấp mặt bằng,… một số tuyến đã bị hư hỏng, xuống cấp; một số tuyến không đáp ứng được lưu lượng thoát nước nên dẫn đến khả năng thoát nước của nhiều vị trí bị hạn chế.

2. Tình trạng ngập úng:

Trong thời gian qua, đối với các đợt mưa có cường độ lớn trong năm 2016, trên địa bàn Thành phố có nhiều điểm thường xuyên bị ngập úng như: Đường Đống Đa (đoạn từ đường Lý Thường Kiệt đến đường Hùng Vương), đường Hùng Vương (đoạn từ đường Nguyễn Tri Phương đến Ngã 6), đường Bến Nghé, đường Trần Quang Khải, đường Lê Quí Đôn,… Một số vị trí thời gian ngập úng kéo dài gây cản trở giao thông, ảnh hưởng đến việc đi lại và sinh hoạt của người dân.

3. Nguyên nhân:

- Do biến đổi khí hậu nên lượng mưa, hình thức mưa ở Huế cũng thay đổi so với trước đây: Trước đây thường là mưa nhỏ, kéo dài; nhưng thời gian gần đây, thời gian mưa ở Huế giảm, nhưng cường độ mưa rất cao, nên gây úng cục bộ trong một thời gian nhất định.

- Quá trình đô thị hóa:

+ Các khu đô thị, các gia đình đều tiến hành bê tông hóa đã làm giảm khả năng tự thấm, đồng thời lượng nước sẽ được tập trung nhiều và nhanh hơn.

+ Không kiểm soát cao độ nền: Cao độ nền của các công trình xây dựng, các khu quy hoạch, các tuyến đường khi nâng cấp chủ yếu là nâng cao độ một cách cục bộ, ít chú ý đến cao độ của khu vực xung quanh, tạo thành các đê ngăn nước.

+ Việc san lấp các ao hồ đã làm giảm khả năng điều tiết nước khi mưa.

- Hệ thống thoát nước đã xuống cấp: Nhiều vị trí bị ngập úng là do hệ thống thoát nước tồn tại từ lâu, đến nay đã xuống cấp và có hiện tượng quá tải nên không đủ khả năng thoát nước khi có mưa lớn.

- Hệ thống thoát nước của các khu quy hoạch chỉ mang tính cục bộ; không khớp nối với nhau và không có tính liên hoàn; đồng thời ít chú ý đến thoát nước của khu vực lân cận.

- Ý thức của người dân khi xả thải: Xả tất cả rác thải xuống hệ thống cống, gây tắc nghẽn hệ thống.

- Dự án Cải thiện Môi trường nước thành phố đang trong quá trình triển khai, do công tác đấu nối và thi công chưa hoàn chỉnh, ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến khả năng thoát nước của hệ thống.

4. Giải pháp khắc phục:

Do quá trình biến đổi khí hậu, kết hợp với quá trình đô thị hóa và san lấp các ao hồ. Nên tình trạng ngập úng là điều không thể tránh khỏi trong thời gian tới và những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, để giảm thời gian ngập úng cần tập trung một số giải pháp sau:

- Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong việc không vứt rác thải ra đường, xuống sông hồ và hệ thống thoát nước.

- Cần phải kiểm soát cao độ nền của các công trình xây dựng, các khu quy hoạch và cao độ của các tuyến đường. Thực hiện tốt quy hoạch thoát nước và quy hoạch san nền.

- Đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án Cải thiện Môi trường nước thành phố giai đoạn 1 (hầu hết khu vực Nam sông Hương) và tiếp tục triển khai ngay giai đoạn 2 của dự án (khu vực Bắc sông Hương và một số khu vực phía Nam sông Hương).

- Đối với khu vực phía Bắc sông Hương:

+ Cần tổ chức nạo vét thành hào và hệ thống các hồ trong Kinh Thành để tăng khả năng điều tiết nước, giảm thiểu ngập úng khi mưa lớn.

+ Cần phải đầu tư xây dựng mới và cải tạo các điểm có hệ thống thoát nước đã xuống cấp hoặc chưa có hệ thống thoát nước.

- Đối với khu vực phía Nam sông Hương:

+ Trong quy hoạch đô thị cần tạo các hồ cảnh quan, kết hợp làm hồ điều tiết nước trong khu vực.

+ Nạo vét hạ lưu các sông: Như Ý, An Cựu nhằm tăng khả năng thoát nước của hệ thống.

+ UBND thành phố Huế và các huyện, thị xã cần tăng cường khơi thông hệ thống thoát nước; thường xuyên tổ chức vớt rác, bèo trên các sông để tăng khả năng thoát nước.

+ Cần phải đầu tư xây dựng mới và cải tạo các điểm có hệ thống thoát nước đã xuống cấp hoặc chưa có hệ thống thoát nước.

 

Câu hỏi của bạn dolam.kr@gmail.com, dolam.kr@gmail.com:

Hàng hóa nhập khẩu mà trên sản phẩm thiếu tên và địa chỉ của nhà sản xuất thì có bị xử phạt hay không, nếu có thì mức phạt là bao nhiêu? 

Trả lời của lãnh đạo Sở Công Thương:

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 89/2006/NĐ-CP của Chính phủ về ghi nhãn hàng hóa có quy định “Hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của hàng hoá. Nội dung ghi bằng tiếng Việt phải tương ứng với nội dung ghi trên nhãn gốc”.

Tuy nhiên, nội dung câu hỏi của độc giả chưa nêu rõ, hàng hóa đó vi phạm về nhãn gốc bằng tiếng nước ngoài hay vi phạm về nhãn phụ bằng tiếng Việt Nam. Để trả lời câu hỏi của bạn, chúng tôi trích dẫn các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm liên quan đến nhãn hàng hóa như sau:

- Trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu (kể cả tem hoặc nhãn phụ) ghi không đ các nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa hoặc hàng hóa nhập khẩu có nhãn gốc bằng tiếng nước ngoài nhưng không có nhãn phụ bằng tiếng Việt Nam thì bị xử phạt theo Điều 26 Nghi định số 80/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa.

- Về mức phạt tiền: Tùy theo trị giá hàng hóa vi phạm thì áp dụng mức phạt tiền tương ứng:

Ví dụ: Hàng hóa nhp khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam, ghi không đủ các nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa với trị giá hàng hóa vi phạm là 60.000.000 đồng, thì bị xử phạt theo điểm đ khoản 2 Điều 26 Nghị định số 80/2013/NĐ-CP: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ trên 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng”.

Câu hỏi của bạn Lại Hồng Trường, Số *2A, đường Lê Công Hành, phường An Tây, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế:

1. Đối với dự án Kêu gọi đầu tư trọng điểm của Tỉnh, KKT Chân Mây - Lăng Cô thì quy trình thủ tục đầu tư đối với việc chấp thuận chủ trương đầu tư và Giấy chứng nhận đầu tư có thời hạn bao lâu? Chính xác là đối với dự án Cảng Chân Mây mở rộng? Trong khi các tỉnh khác thủ tục chấp thuận đầu tư là rất nhanh, nhà đầu tư nào không triển khai theo tiến độ thủ tuc và đầu tư sẽ bị thu hồi.
2. Việc cung cấp và tiệp cận thông tin dự án kêu gọi đầu tư cho chủ đầu tư có được thực hiện?
3. Đề nghị cung cấp thông tin đối với dự án mở rộng Cảng Chân Mây theo hồ sơ và Công văn đính kèm thông qua đối thoại này của chính quyền có được không?

Trả lời của Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Kinh tế, Công nghiệp tỉnh Nguyễn Văn Sơn:

Về Quy trình thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư dự án (cụ thể là dự án đầu tư xây dựng Bến cảng thuộc cảng Chân Mây) 

Theo Công văn số 10989/BGTVT-KHĐT ngày 20/9/2016 của Bộ Giao thông Vận tải về việc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư các bến cảng thuộc khu bến cảng Chân Mây, dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh các bến cảng thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của địa phương. 

Theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định của UBND tỉnh tại Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016 về trình tự thủ tục thực thiện, giám sát, quản lý dự án đầu tư và xây dựng không sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, việc quyết định chủ trương đầu tư được thực hiện thông qua 02 bước:
Bước 1: Giới thiệu, thống nhất thông tin địa điểm: thời gian 15 ngày
- Nhà đầu tư gửi văn bản đề nghị giới thiệu thông tin địa điểm đến Ban quản lý (theo mẫu quy định tại QĐ 26/2016/QĐ-UBND).
- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, Ban Quản lý sẽ báo cáo UBND tỉnh xem xét, thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư.
- Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo của Ban Quản lý, UBND tỉnh có văn bản thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư, trường hợp từ chối UBND tỉnh sẽ thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư, Ban Quản lý gửi văn bản giới thiệu thông tin địa điểm nghiên cứu cho nhà đầu tư.
Bước 2: Quyết định chủ trương đầu tư: thời gian 20 ngày
- Sau khi được UBND tỉnh thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư, nhà đầu tư lập hồ sơ dự án đầu tư theo Quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư gửi Ban Quản lý để xin cấp quyết định chủ trương đầu tư.
- Sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ (có đầy đủ thành phần, số lượng, quy cách, đầy đủ thông tin theo quy định), Ban Quản lý gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm định của cơ quan nhà nước có liên quan những nội dung của dự án.
- Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Ban Quản lý sẽ xem xét, cấp Quyết định chủ trương đầu tư hoặc nếu từ chối thì sẽ có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Trường hợp cần thiết UBND tỉnh có thể tổ chức cuộc họp để nghe nhà đầu tư báo cáo. Thời gian cấp quyết định chủ trương đầu tư trong trường hợp này kéo dài thêm 05 ngày so với thời gian quy định.
Bạn lưu ý, đối với dự án đầu tư bến cảng, nhà đầu tư phải lấy ý kiến của Bộ Giao thông Vận tải, Cục hàng hải Việt Nam về sự phù hợp với quy hoạch; việc này thực hiện đồng thời với hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư.
Trường hợp dự án có sử dụng vốn nhà nước để tiến hành đầu tư, Công ty phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
Về hướng dẫn thủ tục quyết định chủ trương đầu tư Bến số 2 - Cảng Chân Mây, Ban Quản lý đã có Công văn số 260/KKTCN ngày 27/9/2016 gửi Công ty.
Sau khi được các cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, Ban Quản lý sẽ hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện các thủ tục về quy hoạch, xây dựng, đất đai, môi trường, PCCC, ... để khởi công xây dựng dự án. Trình tự, thủ tục và thời gian thực hiện được quy định cụ thể tại Quyết định số 26 của UBND tỉnh.
Mọi thông tin chi tiết liên quan đến việc đầu tư tại KKT Chân Mây Lăng Cô, bạn vui lòng liên hệ Ban Quản lý KKTCN tỉnh TTH, địa chỉ 37 Nguyễn Huệ, thành phố Huế (điện thoại 0543831324).

Câu hỏi của bạn Như Ý, thị xã Hương Thủy:

Xin chào lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi là các sinh viên du lịch, mới ra trường, nhận thấy tiềm năng du lịch của tỉnh rất phong phú, trong đó có khu vực cầu ngói Thanh Toàn. Nhóm chúng tôi muốn xây dựng dự án Khu trải nghiệm du lịch sinh thái đồng quê tại khu vực cạnh cầu ngói Thanh Toàn (thuộc xã Phú Hồ, Phú Vang). Diện tích dự kiến khoảng 5-10ha. Khu vực đó hiện đang là đất trồng lúa. Vậy xin hỏi khu vực ấy chúng tôi muốn phát triển dự án nói trên được không? Thủ tục tiến hành như thế nào? Liên hệ ở đâu để được hỗ trợ và giúp đỡ triển khai dự án đó? Ngoài ra chúng tôi mới khởi nghiệp và đầu tư tại địa bàn không mấy thuận lợi về giao thông, cũng như KT – XH tại đó còn khó khăn thì có ưu đãi gì không? Trong dự án của chúng tôi nếu được triển khai thì rất cần có 1 cây cầu bắt qua sông Như Ý để kết nối khu vực dự án với không gian cầu ngói Thanh Toàn, việc này Tỉnh sẽ hỗ trợ hay chúng tôi xây dựng? Xin cảm ơn!

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Trước tiên chúng tôi hoan nghênh ý tưởng đầu tư của các bạn. Về nguyên tắc khi xác định vị trí triển khai một dự án thì phải phù hợp với quy hoạch ngành, quy hoạch sử dụng đất,… Tuy nhiên, vị trí thực hiện dự án của các bạn đề xuất tại xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, hiện trạng là đất trồng lúa, chúng tôi chưa xác định được quy hoạch tại địa điểm trên có phù hợp với phát triển du lịch không, để tiến hành các thủ tục triển khai dự án theo đúng quy định, đề nghị các bạn nghiên cứu Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016 của UBND tỉnh ban quy định trình tự thủ tục thực hiện, giám sát, quản lý dự án đầu tư và xây dựng không sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, cụ thể một số bước như sau:

1. Đề nghị các bạn (nhà đầu tư) gửi đề nghị giới thiệu địa điểm đầu tư dự án đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ là UBND huyện Phú Vang.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải thông báo kết quả cho nhà đầu tư; đồng thời gửi cho Cơ quan đăng ký đầu tư một bản để theo dõi, xử lý các bước tiếp theo (nếu Cơ quan tiếp nhận hồ sơ không phải là Cơ quan đăng ký đầu tư).

2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị theo quy định tại Khoản 1 Điều này, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm phối hợp Cơ quan đăng ký đầu tư với các cơ quan, ban, ngành liên quan tổng hợp thông tin về: giá đất, bản đồ địa chính khu đất, quy hoạch,... của khu vực dự án đầu tư, báo cáo UBND tỉnh thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư.

3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo của Cơ quan tiếp nhận hồ sơ, UBND tỉnh có văn bản thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư, trường hợp từ chối UBND tỉnh sẽ thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trường hợp dự án thực hiện tại địa điểm không thuộc hoặc chưa phù hợp quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, văn bản thng nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư của UBND tỉnh sẽ có nội dung đng ý chủ trương, đồng thời giao trách nhiệm cho Cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch phối hợp với các cơ quan, ban ngành liên quan trình UBND tỉnh bổ sung hoặc điều chỉnh cục bộ quy hoạch trước khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất.

Trường hợp cần thiết UBND tỉnh có thể tổ chức cuộc họp để quyết định việc bổ sung hoặc điều chỉnh cục bộ quy hoạch. Thời gian thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư trong trường hợp này kéo dài thêm 05 ngày so với thời gian quy định tại Khoản này.

4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản giới thiệu thông tin địa điểm nghiên cứu cho nhà đầu tư.

5. Sau khi nhận được văn bản thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư của UBND tỉnh, nhà đầu tư tiến hành lập đề xuất dự án đầu tư (tối đa không quá 03 tháng kể từ ngày nhận được văn bản thống nhất địa điểm nghiên cứu đầu tư của UBND tỉnh) và nộp tại bộ phận một cửa Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổ chức thẩm tra báo cáo UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án, hồ sơ đề nghị quyết định chủ trương đầu tư gồm: 04 bộ hồ sơ, trong đó có ít nhất 01 bộ hồ sơ gốc.

- Văn bản đề nghị thực hiện dự án đầu tư (theo mẫu) (Bản chính);

- Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; Bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức;

- Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: Nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án (theo mẫu) (Bản chính);

- Bản sao một trong các tài liệu sau: Báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính; bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư;

- Đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp Bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư (đăng ký cùng văn bản đề xuất dự án đầu tư) (Bản chính);

- Giải trình về sử dụng công nghệ đối với dự án có sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ, gồm các nội dung: tên công nghệ, xuất xứ công nghệ, sơ đồ quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật chính, tình trạng sử dụng của máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ chính (đăng ký cùng văn bản đề xuất dự án đầu tư) (Bản chính)

Sau 20 ngày nhận được hồ sơ đề xuất dự án, Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu UBND tỉnh cấp quyết định chủ trương cho nhà đầu tư để làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo đúng quy định.

6. Về ưu đãi đầu tư: Dự án các bạn đầu tư tại địa bàn huyện Phú Vang, thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, do đó dự án được hưởng ưu đãi cụ thể như sau:

- Được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước 7 năm sau thời gian được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước của thời gian xây dựng cơ bản 

- Về thuế thu nhập doanh nghiệp:

+ Được hưởng Thuế suất 20% trong thời gian mười năm.

+ Được miễn thuế 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo.

7. Về hỗ trợ đầu tư cụ thể ở đây là cầu vào dự án: Dự án của các bạn không thuộc đối tượng được hỗ trợ đầu tư theo quy định tại Quyết định số 01/2013/QĐ-UBND ngày 05/01/2013 về ban hành một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế . Tuy nhiên, nếu cầu bắt qua sông này nằm trong quy hoạch hệ thống giao thông của tỉnh, UBND tỉnh sẽ xem xét, lồng ghép các nguồn lực để hỗ trợ đầu tư.

Câu hỏi của bạn dieu_cam@gmail.com, dieu_cam@gmail.com:

Các hành vi nào được coi là trốn thuế, gian lận thuế trong lĩnh vực hải quan và quy định về xử phạt đối với hành vi này như thế nào? Rất mong chương trình giải đáp, chân thành cám ơn.

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Hải quan Thừa Thiên Huế Ngô Bình Tú:

Theo quy định tại Khoản 10 Điều 1 Nghị định số 45/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-8-2016, các hành vi trốn thuế, gian lận thuế trong lĩnh vực hải quan, gồm:

1. Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp, không đúng với thực tế giao dịch để kê khai thuế; tự ý tẩy xóa, sửa chữa chứng từ dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, được hoàn;

2. Khai sai mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế đối với những mặt hàng đã được cơ quan hải quan hướng dẫn mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế;

3. Không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà cơ quan hải quan phát hiện khi thanh tra, kiểm tra sau thông quan nhưng cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định trước thời điểm lập biên bản vi phạm;

4.  Làm thủ tục xuất khẩu nhưng không xuất khẩu sản phẩm gia công; sản phẩm sản xuất xuất khẩu; sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất;

5. Khai nhiều hơn so với thực tế hàng hóa xuất khẩu về chủng loại, số lượng, khối lượng sản phẩm gia công; sản phẩm sản xuất xuất khẩu; sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất, hàng tái xuất có số thuế gian lận từ 100.000.000 đồng trở lên mà không phải là tội phạm;

6. Xuất khẩu sản phẩm theo loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu hoặc xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất mà sản phẩm xuất khẩu không được sản xuất từ nguyên liệu đã nhập khẩu; nhập khẩu sản phẩm theo loại hình gia công từ nước ngoài mà sản phẩm nhập khẩu không được sản xuất từ nguyên liệu đã xuất khẩu;

7. Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan hải quan theo quy định;

8. Không khai hoặc khai sai tên hàng, mã số hàng hóa, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào nội địa;

9. Không ghi chép trong sổ sách kế toán các Khoản thu, chi liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

10. Bán hàng miễn thuế không đúng đối tượng quy định;

11. Các hành vi cố ý không khai hoặc khai sai khác về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để trốn thuế, gian lận thuế.

Về quy định xử phạt: theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định 45/2016/NĐ-CP thì Người nộp thuế có hành vi vi phạm nêu trên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định, còn bị phạt tiền như sau:

Phạt 01 lần số tiền thuế trốn, gian lận trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng.

Trường hợp có tình tiết tăng nặng thì đối với tổ chức mỗi tình tiết tăng nặng mức phạt tăng lên 0,2 lần nhưng không vượt quá 03 lần số tiền thuế trốn, gian lận; đối với cá nhân mỗi tình tiết tăng nặng mức phạt tăng lên 0,1 lần nhưng không quá 1,5 lần số tiền thuế trốn, gian lận.

Câu hỏi của bạn Lê Văn Hân, TP Huế:

Công ty chúng tôi là công ty TNHH 01 thành viên và muốn giảm vốn điều lệ do thu hẹp quy mô. Tôi nghe nói trước đây là không được nhưng bây giờ theo Luật mới thì được. Vậy xin hỏi trình tự thủ tục như thế nào?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung
Đúng vậy!
1. Theo Khoản 1 Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: Công ty TNHH 01 thành viên không được giảm vốn điều lệ.
2. Theo Khoản 1 Điều 87 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thay đổi vốn điều lệ trong các trường hợp sau đây:
a) Hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu;
b) Vốn điều lệ không được chủ sở hữu thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 74 của Luật Doanh nghiệp 2014.
Điều 74. Thực hiện góp vốn thành lập công ty
1. Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng giá trị tài sản do chủ sở hữu cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty.
2. Chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
3. Trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, chủ sở hữu công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ. Trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ.
4. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ.
Thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ:
1. Công ty gửi Thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);
b) Vốn điều lệ đã đăng ký và vốn điều lệ đã thay đổi; thời điểm và hình thức tăng giảm vốn;
2. Kèm theo Thông báo quy định tại Khoản 1 Điều này phải có Quyết định của chủ sở hữu công ty.
3. Cam kết bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác sau khi giảm vốn, kèm theo Thông báo phải có thêm báo cáo tài chính của công ty tại kỳ gần nhất với thời điểm quyết định giảm vốn điều lệ.
4. Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp theo quy định.

 

Câu hỏi của bạn truonghuuson_1975@gmail.com, truonghuuson_1975@gmail.com:

Trường hợp của công ty có quyết định giải thể nhưng trong năm có chi trả thu nhập cho cá nhân người lao động (không phát sinh phải khấu trừ thuế) thì công ty công ty có phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN hay không?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Thừa Thiên Huế Phạm Minh Kiên

Căn cứ Điều 16 Thông tư hợp nhất số 18/VBHN-BTC của BTC ngày 19/6/2015 quy định về khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân như sau:
“Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập giải thể, chấm dứt hoạt động có phát sinh trả thu nhập nhưng không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân, chỉ cung cấp cho cơ quan thuế danh sách cá nhân đã chi trả thu nhập trong năm (nếu có) theo Mẫu 25/DS-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này chậm nhất là ngày thứ 45 (bốn mươi lăm) kể từ ngày có quyết định về việc giải thể, chấm dứt hoạt động.”
Căn cứ quy định trên Công ty có quyết định giải thể nhưng trong năm có chi trả thu nhập cho cá nhân người lao động (không phát sinh phải khấu trừ thuế) thì công ty không phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN, chỉ cung cấp cho cơ quan thuế danh sách cá nhân đã chi trả thu nhập trong năm theo Mẫu 25/DS-TNCN chậm nhất là ngày thứ 45 kể từ ngày có quyết định về việc giải thể, chấm dứt hoạt động.

Câu hỏi của bạn Huỳnh Ngọc Tiến, TP.Huế:

Xin cho hỏi những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp mới thể hiện xu hướng cải cách tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp

Trả lời của Phó Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

So với Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 có những đổi mới rất trọng yếu liên quan đến doanh nghiệp, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số doanh nghiệp. Tôi xin điểm lại những đổi mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp 2014.

Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014:

Trên tinh thần vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định đang còn phù hợp, đã và đang đi vào cuộc sống của Luật cũ, đồng thời cũng sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục giảm thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký doanh nghiệp xuống còn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ. Quy định này giúp quá trình gia nhập thị trường của doanh nghiệp nhanh hơn, tốt hơn và rẻ hơn. 

Thứ hai, nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ còn 4 nội dung so với 10 nội dung trước đây (bỏ mục ngành, nghề kinh doanh; danh sách cổ đông sáng lập; vốn pháp định; chi nhánh, văn phòng dại diện, địa điểm kinh doanh). Theo đó, khi thay đổi ngành, nghề kinh doanh, doanh nghiệp chỉ phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh để được bổ sung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Như vậy, mỗi khi doanh nghiệp thay đổi, bổ sung nhành nghề kinh doanh, sẽ không mất thời gian và thủ tục để chờ cấp lại Giấy phép đăng ký doanh nghiệp. Những quy định này đã thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh.

Thứ ba, tách bạch giữa thành lập doanh nghiệp và giấy phép kinh doanh, tách riêng thủ tục thành lập doanh nghiệp với các thủ tục về đầu tư dự án, cùng với Luật Đầu tư năm 2014, bãi bỏ nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có thể đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam đều phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, sau đó sẽ thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Quy định này giúp giảm dần khác biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu nước ngoài.

Thứ tư, bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp như chứng chỉ hành nghề, vốn pháp định,… Quy định này tạo ra cơ hội lớn hơn về khả năng gia nhập thị trường cho doanh nghiệp.

Thứ năm, về vấn đề con dấu của doanh nghiệp, dù chưa thể bỏ hoàn toàn việc sử dụng con dấu, nhưng đã có bước cải cách quan trọng. Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Thay vì phải đăng ký với cơ quan công an như trước đây, doanh nghiệp chỉ cần thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Quy định này giúp doanh nghiệp đỡ phiền hà, tốn kém về chi phí, thời gian.

Thứ sáu, cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật; cho phép công ty cổ phần có thể chọn một trong hai mô hình tổ chức, quản lý. Quy định này giúp các doanh nghiệp chủ động, sáng tạo hơn khi được tự lựa chọn các mô hình, phương thức phù hợp với hoạt động của mình và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

Thứ bảy, cho phép các doanh nghiệp có thể giảm vốn điều lệ trên cơ sở quy định các nguyên tắc để xác định, đăng ký vốn thực của công ty, trong đó điểm mới nhất là cho phép công ty TNHH một thành viên được giảm vốn điều lệ. Quy định này giúp các doanh nghiệp giải quyết tình trạng vốn không có thực nhưng không thể xử lý được như hiện nay.

Thứ tám, rút ngắn thời hạn góp vốn còn 90 ngày. Chủ sở hữu, thành viên công ty TNHH phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp so với quy định cũ về thời thời hạn góp vốn tối đa là 36 tháng. 

Thứ chín, luật hóa Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia. Quy định này giúp đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý công tác đăng ký doanh nghiệp.

Và thứ mười, rút gọn chỉ còn 5 trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp so với 8 trường hợp của Luật doanh nghiệp 2005. Quy định này giúp các doanh nghiệp rút khỏi thị trường thuận lợi hơn, nhanh hơn và rẻ hơn.

Hy vọng rằng, những đổi mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 sớm đi vào cuộc sống, nhằm hướng đến sự thông thoáng, minh bạch nhất trong đầu tư kinh doanh, sao cho chi phí doanh nghiệp tiếp cận thị trường là nhỏ nhất.

Câu hỏi của bạn Nguyễn Thanh, Thành phố Huế:

Những trường hợp nào thì không cần phải xin giấy phép khai thác kháng sản làm vật liệu xây dựng thông thường? Trường hợp công ty khai thác trong diện tích đất của dự án đầu tư xây dựng công trình đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư có phải làm giấy phép khai thác khoáng sản không?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lê Bá Phúc:

1. Trường hợp không phải xin giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.

Theo quy định tại khoản 2, điều 64 của Luật Khoáng sản năm 2010 các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không phải đề nghị cấp Giấy phép khai thác khoáng sản trong các trường hợp sau đây:

a) Khai thác trong diện tích đất của dự án đầu tư xây dựng công trình đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc cho phép đầu tư mà sản phẩm khai thác chỉ được sử dụng cho xây dựng công trình đó.

Trước khi tiến hành khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân phải đăng ký khu vực, công suất, khối lượng, phương pháp, thiết bị và kế hoạch khai thác tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

Trường hợp này phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định tại Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013

b) Khai thác trong diện tích đất ở thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để xây dựng các công trình của hộ gia đình, cá nhân trong diện tích đó.

2. Trường hợp công ty khai thác trong diện tích đất của dự án đầu tư xây dựng công trình đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư có phải làm giấy phép khai thác khoáng sản không?

Nếu công ty thực hiện hoạt động khai thác trong diện tích đất của dự án đầu tư xây dựng công trình đã được cơ quan quản lý nhà nước cho phép đầu tư mà sản phẩm khai thác chỉ được sử dụng cho xây dựng công trình đó thì trước khi tiến hành khai thác khoáng sản, công ty phải đăng ký khu vực, công suất, khối lượng, phương pháp, thiết bị và kế hoạch khai thác tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định.

Nếu Công ty không  sử dụng đất để phục vụ cho việc xây dựng công trình đó mà có nhu cầu sử dụng vận chuyển ra khỏi khu vực thưc hiện dự án thì phải được UBND tỉnh cho phép theo thủ tục hướng dẫn tại Công văn số 2202/UBND-TN ngày 21/5/2013 của UBND tỉnh. 

Câu hỏi của bạn Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Cộng Hưởng, 65 Bến Nghé, Phường Phú Hội, Thành phố Huế:

Chúng tôi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới thành lập ở Huế, đang triển khai dự án phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển ở Huế cho hoạt động đầu tư, kinh doanh. Thông qua đối thoại này, chúng tôi gởi tới UBND tỉnh và các đơn vị liên quan một số trăn trở của Công ty sau một thời gian hoạt động kinh doanh:
1. Chính sách chung của UBND tỉnh và của hệ thống các cơ quan nhà nước có phải đang hướng tới việc giúp đơn giản hóa việc thành lập doanh nghiệp và giúp hoạt động kinh doanh được dễ dàng hơn?
2. Trong khi cả nước đang đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp, Thừa Thiên Huế cũng không thể nằm ngoài xu hướng đó và chúng tôi có thể thấy được rất nhiều hoạt động hỗ trợ từ UBND tỉnh và các cơ quan có liên quan, để hỗ trợ cho hoạt động này, các ngài có đang hướng tới việc cung cấp một môi trường mang tính tương tác cao hoặc một không gian áo nơi mà các doanh nghiệp khởi nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể gặp gỡ và trao đổi với các nhà đầu tư để tìm kiếm và huy động vốn?
3. Hoạt động kinh doanh hiện đại rất cần những sự hỗ trợ về công nghệ thông tin và kỹ thuật và Huế cần thiết phát triển những hoạt động hỗ trợ đó tương tự như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi mong muốn chính quyền ở Huế tạo ra một bộ mặt mới cho Huế nơi hội tụ cả văn hóa và lịch sử nhưng theo hướng bao hàm yếu tố công nghệ và phát triển tiên tiến. Các ngài có nghĩ rằng chúng ta đang hướng đến sự phát triển đó?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Năm 2016 là năm mà Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh chọn là năm doanh nghiệp. Toàn hệ thống chính trị, các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh đều hướng đến việc tạo điều kiện thuận lợi tối đa nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có việc giúp đơn giản hóa việc thành lập doanh nghiệp và giúp hoạt động kinh doanh được dễ dàng hơn như bạn đề cập, và đã được Tỉnh thể hiện qua các kế hoạch hoạt động cụ thể, điển hình là Kế hoạch số 145/KH-UBND ngày 30/12/2015 của UBND tỉnh về Hoạt động Năm doanh nghiệp 2016, trong đó tập trung nhiều giải pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh (cụ thể xin mời bạn tham khảo chi tiết tại Trang thông tin điện tử UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Sở Kế hoạch và Đầu tư).

Về vấn đề khởi nghiệp, UBND tỉnh rất quan tâm và cũng đã ban hành Kế hoạch số 147/KH-UBND ngày 23/9/2016 về hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2018. Mục tiêu của Kế hoạch là thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thông qua việc hỗ trợ ban đầu từ chính quyền địa phương như: hỗ trợ tuyên truyền, vận động tinh thần khởi nghiệp, văn hóa khởi nghiệp cho cộng đồng; hỗ trợ không gian làm việc chung cho Hệ sinh thái; miễn giảm các chi phí về đất đai, thuế,.. cho các doanh nghiệp khởi nghiệp; kết nối các mạng lưới khởi nghiệp, các nhà đầu tư tiềm năng, nhà đầu tư mạo hiểm và các quỹ hỗ trợ của địa phương,… giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo. Hiện nay, UBND tỉnh đang giao nhiệm vụ cho Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng các không gian làm việc chung (co-working space) và hỗ trợ văn phòng làm việc cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó có cả một số dịch vụ hạ tầng kỹ thuật dùng chung (gồm cả hệ thống công nghệ thông tin, viễn thông, internet), dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2016.

Câu hỏi của bạn Hoàng Trọng Bình, Thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc:

Là người dân ở thị trấn Lăng Cô, tôi nhận thấy ở đây và trong KKT Chân Mây - Lăng Cô có rất nhiều dự án đã khởi công cả chục năm nay, nhưng đến nay vẫn là bãi đất hoang, gây lãng phí và ảnh hưởng đến thu hút đầu tư của tỉnh. Xin hỏi tỉnh có giải pháp nào cho các dự án kiểu “xí phần dành đất” này?

Trả lời của Phó Trưởng ban Ban quản lý Khu kinh tế, công nghiệp Nguyễn Văn Sơn:

Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, có nhiều tiềm năng để phát triển, song sức ép trong việc thu hút đầu tư và việc chọn lựa nhà đầu tư đầu tư vào Khu Kinh tế là vấn đề tỉnh hết sức quan tâm. Đến nay, Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đã thu hút được 38 dự án đầu tư, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 39.000 tỷ đồng, vốn đầu tư thực hiện đạt 8.200 tỷ đồng, chiếm 21% vốn đăng ký. Trong tổng số 38 dự án, có 16 dự án đã đi vào hoạt động, 15 dự án đang triển khai, 6 dự án chậm tiến độ và 1 dự án ngừng hoạt động.

Căn cứ Kết luận số 12-KL/TU ngày 16/6/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn, chỉ đạo của UBND Tỉnh tại Thông báo kết luận số 157/TB-UBND ngày 10/6/2016 về buổi họp nghe báo cáo rà soát tình hình thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh. Ban Quản lý Khu Kinh tế, Công nghiệp đã tiến hành rà soát xử lý, thu hồi để làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư. 

Cụ thể từ năm 2015 đến nay, Ban Quản lý Khu kinh tế, công nghiệp tỉnh đã thu hồi 07 dự án tại địa bàn Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô (trong đó tập trung chủ yếu ở địa bàn Thị trấn Lăng Cô) với tổng vốn đăng ký là 6.500 tỷ đồng, diện tích đất là 307 ha; đang tiến hành các thủ tục để tiếp tục thu hồi 01 dự án và 04 dự án trong diện rà soát (nếu đến 31/12/2016, nhà đầu tư không có khả năng triển khai sẽ tiến hành thu hồi).

Điều đó, thể hiện tính nghiêm túc của Tỉnh Thừa Thiên Huế đối với các dự án chậm tiến độ, nhà đầu tư ”xí phần” nhằm lành mạnh hóa môi trường đầu tư, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư có tiềm lực, thực chất để đầu tư vào Khu kinh tế.

Câu hỏi của bạn Bùi Xuân Mạnh, Hà Nội:

Xin hỏi tôi có thể đăng ký thành lập mới doanh nghiệp tại Huế qua mạng điện tử được không vì hiện nay tôi đang sống và làm việc tại TP Hà Nội?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:
Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh thành có tỷ lệ đăng ký kinh doanh qua mạng dẫn đầu cả nước. Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư luôn sẵn sàng hướng dẫn và tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp nộp hồ sơ qua mạng. 

Bạn có thể đăng nhập vào địa chỉ: http://dangkykinhdoanh.gov.vn để có thể đăng ký thành lập mới doanh nghiệp qua mạng điện tử.

Tại trang thông tin điện tử Sở Kế hoạch Đầu tư Thừa Thiên Huế (http://skhdt.thuathienhue.gov.vn) chúng tôi cũng có hướng dẫn cách thức đăng ký doanh nghiệp mới trực tuyến trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để người dân, doanh nghiệp có thể tự đăng ký thành lập mới doanh nghiệp mà không phải đến trực tiếp Phòng Đăng ký kinh doanh.

Các bước thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng:

- B1: Truy cập và tạo tài khoản đăng ký kinh doanh theo form hướng dẫn theo đường link đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử
https://dangkyquamang.dkkd.gov.vn/auth/Public/LogOn.aspx?ReturnUrl=%2fauth%2fdefault.aspx

- B2: Tạo hồ sơ theo loại hình doanh nghiệp

- B3: Điền vào mẫu hồ sơ theo hướng dẫn (phải « lưu » sau khi hoàn thành mỗi bước)

- B4: Đính kèm file điện tử

- B5: Thực hiện thanh toán theo hướng dẫn (lưu ý: kiểm tra tin nhắn ở điện thoại di động được đăng ký làm thẻ ebanking)

- Hoàn thành – in phiếu biên nhận.

Chúc bạn thành công!

Câu hỏi của bạn Văn phong, Xuân phú, Huế:

Tôi muốn hỏi theo quy định thì ngay sau khi thành lập doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải làm những thủ tục gì với cơ quan thuế và thời hạn là bao nhiêu ngày?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Thừa Thiên Huế Phạm Minh Kiên

Tại Điều 6, Thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày ngày 28 tháng 6 năm 2016  của BTC hướng dẫn đăng ký thuế quy đinh thời hạn thực hiện đăng ký thuế của người nộp thuế

Người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện đăng ký thuế theo đúng thời hạn quy định tại Điều 22 Luật quản lý thuế, cụ thể như sau:

1. Các tổ chức kinh tế, tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh phải thực hiện đăng ký thuế trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ:

- Ngày ghi trên Giấy phép thành lập và hoạt động, hoặc Quyết định thành lập, hoặc Giấy phép tương đương do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Căn cứ Điều 22 Điều 23 Luật quản lý thuế quy định thời hạn đăng ký thuế quy định về thời hạn và thủ tục về đăng ký thuế như sau:

Các tổ chức kinh tế, tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh phải thực hiện đăng ký thuế trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày  Được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư;

1. Hồ sơ đăng ký thuế đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm:

a) Tờ khai đăng ký thuế;

b) Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư.

2. Hồ sơ đăng ký thuế đối với tổ chức, cá nhân không thuộc diện đăng ký kinh doanh bao gồm:

a) Tờ khai đăng ký thuế;

b) Bản sao quyết định thành lập hoặc quyết định đầu tư đối với tổ chức; bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu đối với cá nhân.

Sau đó đăng ký phương pháp nộp thuế và đăng ký sử dụng hóa đơn tại cơ quan thuế quản lý .

 

Câu hỏi của bạn Đặng Minh Phúc, Thành phố Huế:

Xin hỏi Tỉnh đã có những giải pháp nào cho việc rút ngắn thời gian cho doanh nghiệp thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh?

Trả lời của Phó Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Về cải cách hành chính liên quan đến rút ngắn thời gian cho doanh nghiệp thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh, chúng tôi xin thông tin với Quý bạn đọc rằng: Thừa Thiên Huế là 01 trong 03 địa phương đầu tiên của cả nước áp dụng quy trình một cửa liên thông. Theo cơ chế này, tổ chức, cá nhân đăng ký thành lập doanh nghiệp chỉ phải nộp một bộ hồ sơ duy nhất (gồm các thông tin về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế) tại một đầu mối tiếp nhận duy nhất (cơ quan Đăng ký kinh doanh) để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đồng thời là chứng nhận đăng ký thuế) và một mã số doanh nghiệp duy nhất trên một quy trình chuẩn thống nhất trên phạm vi cả nước.

Cơ chế “Một cửa” nói trên đã giúp giảm đáng kể thời gian thực hiện 03 thủ tục cơ bản của quá trình gia nhập thị trường theo quy định từ 32 ngày làm việc (giai đoạn trước năm 2005) xuống 22 ngày làm việc (từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực), 15 ngày làm việc (kể từ năm 2007), 5 ngày làm việc (kể từ năm 2008 đến tháng 6/2015) và từ tháng 7/2015 đến nay chỉ còn còn tối đa là 03 ngày làm việc.
Để tiếp tục tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, hướng tới một dịch vụ hành chính công hiện đại, ngay từ đầu năm 2014, Tỉnh đã cam kết hỗ trợ doanh nghiệp bằng những việc làm cụ thể thông qua cải cách thủ tục hành chính như:
- Hỗ trợ mẫu thủ tục; kiểm tra hồ sơ, hướng dẫn trực tuyến thông qua mạng internet cho đến khi hoàn chỉnh toàn bộ hồ sơ. Người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả này để đến nộp hồ sơ duy nhất một lần tại Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc đăng ký thành lập doanh nghiệp mới trực truyến tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
- Đối với những người dân, doanh nghiệp chưa nắm vững các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh; không biết sử dụng e-mail, truy cập web; Phòng Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm hướng dẫn trực tiếp về thủ tục, hồ sơ đăng ký kinh doanh trên mẫu bằng giấy. Sau một lần hướng dẫn, người dân, doanh nghiệp có thể tự hoàn thiện hồ sơ đăng ký và Phòng Đăng ký kinh doanh phải thụ lý giải quyết.
- Hướng dẫn trực tiếp cách thức đăng ký doanh nghiệp mới trực tuyến trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để người dân, doanh nghiệp có thể đăng ký thành lập mới doanh nghiệp trực tuyến trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Kết quả đến nay Thừa Thiên Huế là tỉnh đứng đầu trong cả nước về đăng ký kinh doanh qua mạng, hầu như 100% hồ sơ đăng ký thành lập mới được doanh nghiệp thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng.
- Đặc biệt từ ngày 01/8/2014, Tỉnh đã chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bưu điện tỉnh cung cấp thêm dịch vụ phát trả hồ sơ doanh nghiệp, chứng nhận đầu tư qua chuyển phát nhanh - EMS, đảm bảo về thời gian, tính an toàn, bảo mật theo quy định pháp luật. Và từ ngày 11/8/2014, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tiếp tục thực hiện trả ngay kết quả cho doanh nghiệp đối với một số thủ tục đơn giản như: Hiệu đính thông tin Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp; Thay đổi địa chỉ trụ sở chính; Tạm ngừng kinh doanh; Giải thể. Trong thời gian tới, Tỉnh tiếp tục nghiên cứu đưa thêm các thủ tục hành chính có thể trả ngay nhằm giảm thời gian và chi phí đi lại của doanh nghiệp.

Câu hỏi của bạn Bùi Thu Hương, Huế:

Vi phạm quy định về khai hải quan thì mức xử phạt như thế nào?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Hải quan Thừa Thiên Huế Ngô Bình Tú:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 45/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan, Vi phạm quy định về khai hải quan có mức xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không khai hoặc khai sai so với thực tế về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, xuất xứ hàng hóa là hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không khai hoặc khai sai so với thực tế về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, xuất xứ hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Hàng hóa từ nước ngoài vào khu phi thuế quan hoặc từ khu phi thuế quan ra nước ngoài;

b) Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, hàng hóa từ nước ngoài vào cảng trung chuyển hoặc từ cảng trung chuyển ra nước ngoài;

c) Hàng hóa sử dụng, tiêu hủy trong khu phi thuế quan.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không khai hoặc khai sai so với thực tế về tên hàng, chủng loại, xuất xứ, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, đối tượng không chịu thuế theo quy định của pháp luật.

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi khai báo hàng hóa nhập khẩu theo loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu nhưng không có cơ sở sản xuất hàng gia công, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu.

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi khai khống về tên hàng, số lượng, trọng lượng, trị giá hàng hóa xuất khẩu; trừ hàng hóa xuất khẩu là sản phẩm gia công, sản phẩm sản xuất xuất khẩu, sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất, hàng kinh doanh tạm nhập - tái xuất.

6. Vi phạm quy định tại Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5 Điều này dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, được hoàn, không thu hoặc gian lận, trốn thuế thì xử phạt theo Điều 8 hoặc Điều 13 Nghị định này.

 

Câu hỏi của bạn Trần Đình Luyện, Phường Thuận Hòa, TP Huế:

Chính phủ xác định năm 2016 là năm khởi nghiệp cho doanh nghiệp Việt Nam. Vậy xin hỏi thực trạng phong trào khởi nghiệp hiện nay ở tỉnh Thừa Thiên Huế? Tỉnh Thừa Thiên Huế đã làm gì và sẽ làm gì để hỗ trợ phong trào này?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoàng Việt Trung:

Vâng, cùng với chủ trương chung của cả nước về năm khởi nghiệp cho doanh nghiệp Việt Nam. Về phía tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi sẽ tạo mọi điều kiện tối đa để Hệ sinh thái phát triển bền vững và hiệu quả. Cụ thể là ngày 23/9/2016, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 147/KH-UBND về việc Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2018. Mục tiêu của Kế hoạch là thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thông qua việc hỗ trợ ban đầu từ chính quyền địa phương như: hỗ trợ tuyên truyền, vận động tinh thần khởi nghiệp, văn hóa khởi nghiệp cho cộng đồng; hỗ trợ không gian làm việc chung cho Hệ sinh thái; miễn giảm các chi phí về đất đai, thuế,.. cho các doanh nghiệp khởi nghiệp; kết nối các mạng lưới khởi nghiệp, các nhà đầu tư tiềm năng, nhà đầu tư mạo hiểm và các quỹ hỗ trợ của địa phương,… giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo.

Theo đó, Tỉnh đã triển khai được một số hoạt động chính như sau:

- Tổ chức hội thảo "Kết nối, triển khai Hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế" với 250 sinh viên và doanh nghiệp tham dự.

- Tổ chức cuộc thi Khởi nghiệp sáng tạo Huế 2016 với 3 ý tưởng xuất sắc nhất đã được ban tổ chức trao giải gồm: ý tưởng “Mô hình kiến trúc giấy làm quà lưu niệm” đã được Hội đồng ban giám khảo đánh giá cao và trao giải Nhất; ý tưởng “Phát triển và mở rộng thuốc trừ sâu sinh học từ các loại thảo mộc (ớt, tỏi, gừng, hành, sả) đạt giải Nhì và xếp thứ Ba là ý tưởng “Sản xuất, phân phối hệ thống vườn treo phục vụ cho nhu cầu trồng rau sạch và cây cảnh tại nhà”.

Bên cạnh đó, hai giải khuyến khích thuộc về ý tưởng phát triển kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, trung học và ý tưởng sản phẩm ứng dụng giấy xanh - giấy từ lá cây và phế phẩm nông nghiệp.

Nhận định tính khả thi của một số ý tưởng dự án của các nhóm khác, các thành viên Ban giám khảo đã chọn thêm một số ý tưởng dự án để hỗ trợ, hướng dẫn nhằm hoàn thiện, đưa dự án trở thành hiện thực.

Ngoài ra, các đội đoạt giải trong cuộc thi lần này sẽ có cơ hội tham gia vào cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo quốc gia do VCCI (tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, những người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp tại Việt Nam) tổ chức.

Kế hoạch hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới, chúng tôi tập trung thực hiện tiếp một số nội dung:

- Làm việc với các chuyên gia kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (Ban giám khảo cuộc thi Khởi nghiệp sáng tạo Huế 2016) và các nhóm ý tưởng đã được các chuyên gia lựa chọn xem xét đẩy nhanh tiến độ hỗ trợ, đồng thời nghiên cứu các chính sách của tỉnh để hỗ trợ các nhóm khởi nghiệp hoạt động, kinh doanh theo đúng quy định pháp luật.

- Thành lập Quỹ hỗ trợ sáng tạo khởi nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế (huy động tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, trong đó có phần hỗ trợ của UBND tỉnh trong việc kêu gọi đóng góp một phần cho Quỹ) nhằm hỗ trợ các cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp bao gồm các hoạt động như đào tạo, tập huấn các nội dung liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ cho thuê cơ sở vật chất ban đầu, hỗ trợ tìm kiếm các nhà đầu tư, đối tác kinh doanh và phát triển hoàn thiện ý tưởng sáng tạo đưa vào triển khai trong thực tế.

- Hỗ trợ không gian làm việc chung phục vụ cho việc ươm mầm các ý tưởng khởi nghiệp, ngoài cơ sở ươm tạo của Công ty Coplus (65 Bến Nghé), UBND tỉnh sẽ xem xét về chủ trương xây dựng thêm cơ sở thứ hai tại trường Cao Đẳng sư phạm Huế (82 Hùng Vương) nhằm tạo không gian hỗ trợ tập trung cho các hoạt động khởi nghiệp của tỉnh.

Sau khi cải tạo, xây dựng hoàn thành, Sở Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối tham mưu UBND tỉnh:

(i) Xây dựng quy chế quản lý và vận hành khu nhà không gian làm việc chung.

(ii) Xem xét việc tham gia vào không gian làm việc chung của các cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp trình UBND tỉnh chấp thuận.

Câu hỏi của bạn Trần Thị Hà, Hue:

Chi nhánh, đơn vị trực thuộc công ty mẹ có được dùng hóa đơn riêng hay không?

Trả lời của Phó Cục trưởng Cục Thuế Thừa Thiên Huế Phạm Minh Kiên:

Căn cứ tại Điều 9 Văn bản hợp nhất 17/VBHN-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài chính quy định phát hành hóa đơn của tổ chức kinh doanh như sau:

Theo quy định trên Chi nhánh, đơn vị trực thuộc công ty mẹ được dùng hóa đơn riêng trong trường hợp đơn vị trực thuộc, chi nhánh khai thuế giá trị gia tăng riêng và từng đơn vị trực thuộc, chi nhánh phải gửi Thông báo phát hành cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. 

Câu hỏi của bạn Trương Văn Toàn, Bùi Thị Xuân, Huế:

Xin cho biết điều kiện, thủ tục để doanh nghiệp được cấp phép khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lê Bá Phúc:

1. Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản được khai thác khoáng sản nói chung và cát, sỏi nói riêng gồm:

Doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp, Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã được quy định tại khoản 1, điều 51 của Luật Khoáng sản năm 2010.

2. Thủ tục để doanh nghiệp được cấp phép khai thác cát, sỏi.

Doanh nghiệp thực hiện theo Quyết định số 2298/QĐ-UBND ngày 05/12/2012 của UBND tỉnh.

Câu hỏi của bạn Tống Phước Minh, Thành phố Huế:

Kính thưa Chủ tịch UBND Tỉnh TT. Huế Tôi rất cảm ơn UBND Tỉnh đã tổ chức buổi đối thoại này. Đây là một cầu nối quan trọng giữa Cơ quan Nhà nước với Doanh nghiệp, Tôi có 1 đề nghị nên duy trì công việc này liên tục và thường xuyên bằng công cụ Workplace (của facebook) hiện tại là giải pháp rất hữu ích mà Singapore đã triển khai: http://chungta.vn/tin-tuc/cong-nghe/singapore-dung-facebook-trong-dich-vu-cong-53834.html. Xin UBND Tỉnh tham khảo, nếu thực hiện được thì sẽ là bước đột phá trong hành chính Công của Tỉnh nhà. Xin trân trọng cám ơn.

Trả lời của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao:

Chúng tôi trân trọng cảm ơn sự quan tâm của bạn đã gửi câu hỏi đến chương trình. Chúng tôi sẽ duy trì việc đối thoại trực tuyến giữa lãnh đạo tỉnh với cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trên Cổng TTĐT tỉnh. Liên quan đến đề nghị của bạn về ứng dụng công vụ Workplace (của facebook), chúng tôi xin ghi nhận ý kiến này để tiếp tục nghiên cứu, có giải pháp ứng dụng phù hợp trong thời gian đến. 

Câu hỏi của bạn Lê Dân, Thôn Vân Trình, xã Phong Bình, huyện Phong Điền:

Liên quan đường ống xả nước thải (đang xây dựng) của nhà máy dệt nhuộm tại KCN huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có điểm xả thải chỉ cách cầu Vân Trình hơn 1km và chảy thẳng vào sông Ô Lâu thuộc huyện Phong Điền, đây là nguồn nước chính cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của 2 huyện Quảng Điền và Phong Điền. Nếu nguồn nước thải ô nhiễm sẽ nguy cơ rất lớn cho các cá nhân và doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản cũng như trồng trọt ở 2 địa phương này. Xin hỏi tỉnh Thừa Thiên Huế có giải pháp gì cho vấn đề này?

Trả lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lê Bá Phúc:

Theo nội dung câu hỏi của bạn, chúng tôi rất đồng cảm với sự lo lắng của bạn: Nếu nguồn của sông Ô Lâu bị ô nhiễm do các nguồn thải từ nhà máy công nghiệp chưa qua xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn môi trường thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của địa phương, đặc biệt là việc nuôi trồng thủy sản, trồng trọt...

Qua báo cáo của UBND huyện Phong Điền và thông tin của nhân dân cung cấp thì hiện nay Công ty TNHH Dệt May Vinatex Quốc tế TOMS tại Cụm Công nghiệp Diên Sanh, thị trấn Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đang tiến hành xây dựng tuyến ống để đưa nước thải từ Nhà máy xử lý nước thải dệt nhuộm về thải ra sông Ô Lâu.

Để có đầy đủ thông tin và phối hợp quản lý nhằm đảm bảo môi trường nước sông Ô Lâu, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND huyện Phong Điền tiến hành khảo sát tuyến đường ống xả thải, tìm hiểu về hoạt động của Công ty TNHH Dệt May Vinatex Quốc tế TOMS tại Cụm Công nghiệp Diên Sanh, thị trấn Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị; liên hệ cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Trị để nắm hồ sơ dự án, các thủ tục hành chính về môi trường, xả thải... Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm phối hợp quản lý tốt môi trường lưu vực sông liên tỉnh, đặc biệt là nguồn nước sông Ô Lâu.

 Chúng tôi cám ơn sự quan tâm, lo lắng của bạnđề nghị nhân dân trong khu vực tăng cường hoạt động giám sát cộng đồng, kịp thời cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ môi trường, nhằm kiểm soát được chất lượng nguồn nước sông Ô Lâu.

Buổi đối thoại trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế của lãnh đạo tỉnh với chủ đề Cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn, tạo động lực cho doanh nghiệp phát triểnđã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và trong cả nước, rất nhiều câu hỏi đã được gửi về hộp thư của Ban biên tập và đường dây nóng của BTC.

Sau hơn 2 giờ đối thoại, lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành đã trả lời thẳng thắn, đầy trách nhiệm những câu hỏi của cá nhân, tổ chức gửi tới buổi đối thoại. Kính mời quý vị bạn đọc tiếp tục theo dõi nội dung trả lời tại chyên mục “Trao đổi và tháo gỡ” trên Cổng Thông tin điện tử Thừa Thiên Huế (địa chỉ www.thuathienhue.gov.vn).

Vâng, thưa ông Nguyễn Văn Cao, Chủ tịch UBND tỉnh trước khi kết thúc buổi đối thoại chắc hẳn ông cũng có đôi điều muốn chia sẻ cùng cá nhân. Tổ chức và doanh nghiệp, xin mời ông:


PHÁT BIỂU BẾ MẠC CỦA CHỦ TỊCH UBND TỈNH NGUYỄN VĂN CAO

(tại buổi đối thoại về “Cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn,

tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển”)

 

Thưa quý vị!

Sau hơn 02 giờ đối thoại, Ban tổ chức đã nhận được sự quan tâm, theo dõi của đông đảo người dân, tổ chức và doanh nghiệp với rất nhiều ý kiến, vướng mắc cũng như tâm tư, nguyện vọng được gửi về chương trình. Thay mặt Lãnh đạo tỉnh, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của đông đảo nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp đã tham gia buổi đối thoại này.

Qua nghe các tâm tư, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp gửi về chương trình, chúng tôi đồng cảm với những khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt đồng thời chúng tôi cũng nhận thấy đây là trách nhiệm mà lãnh đạo Tỉnh cũng như các ngành liên quan sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong lãnh, chỉ đạo và công tác điều hành nhằm đáp ứng sự kỳ vọng cũng như yêu cầu phát triển của xã hội và doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

Thời gian tới, Tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm và chỉ đạo các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan nỗ lực hơn nữa, phối hợp và đẩy mạnh việc khắc phục những bất cập, những tồn tại được quý vị nêu liên quan đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh; kịp thời có những biện pháp hữu hiệu trong chỉ đạo, điều hành cho phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu chính đáng của các doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Đặc biệt là tập trung đơn giản hóa, giảm thiểu giấy tờ, rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực hiện các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực; nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; đổi mới lề lối làm việc; thường xuyên gắn kết, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý với cộng đồng doanh nghiệp để có thể tháo gỡ kịp thời mọi vướng mắc của quý vị. Bên cạnh đó Tỉnh cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp phong trào khởi nghiệp tại Tỉnh ngày càng phát triển sâu rộng, hiệu quả; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, ổn định, tự do sáng tạo cho doanh nghiệp khởi nghiệp.

Chúng tôi cam kết, Thừa Thiên Huế tiếp tục dành sự ủng hộ cao nhất cho các nhà đầu tư; sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất về chính sách (trong khuôn khổ cho phép của pháp luật), đồng thời sẽ có những giải pháp thuận lợi nhất để các doanh nghiệp đến đầu tư và sản xuất kinh doanh có hiệu quả tại Tỉnh nhà; sẽ không có nhà đầu tư nào không tìm được cơ hội đầu tư ở Thừa Thiên Huế và không có khó khăn nào của doanh nghiệp không được giải quyết kịp thời và thỏa đáng.

Thay mặt lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành xin chúc các doanh nghiệp vượt qua mọi khó khăn, tận dụng tốt các cơ hội để có những bước phát triển mới trong sản xuất, kinh doanh và đóng góp ngày càng hiệu quả vào việc phát triển KTXH của đất nước nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. Tin tưởng rằng, với sự quyết tâm của Lãnh đạo tỉnh và sự ủng hộ của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, nhất định tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ có sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế - xã hội nói chung, về thu hút đầu tư nói riêng trong thời gian tới.

 

Cuối cùng, một lần nữa xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị.

Xin trân trọng cảm ơn! Xin chào và hẹn gặp lại./.